Khoa Học Về Da

Dưỡng Da

DƯỢC MỸ PHẨM - CHÌA KHÓA CỦA SẮC ĐẸP CỦA THẾ KỶ 2

 

DA LÃO HÓA SỚM - NÁM DA - CHỬA TRỊ

 

KHG Nguyễn Thượng Vũ 

và ban biên tập Dr Vu Cosmeceuticals, Inc.

 

Nám da không phải là một căn bệnh (skin disease). Nám da là sự hoạt động bất thường của da (skin condition) trong việc chế tạo hắc tố làm mất tính thẩm mỹ của da.  Nhất Da Nhì Dáng!  Nám da gây ra rất nhiều buồn phiền cho phụ nữ.  Kèm theo dó là sự tiêu tốn rất nhiều tiền bạc để trị nám da.  Lý do chính là hầu hết các phương pháp trị nám trên thị trường kể cả laser hoặc photo treatment đều có tính tạm thời, sau khi trị nám thường trở lại và có thể nặng hơn lúc đầu. Trong khi đó dùng liên tục các sản phẩm có chứa hóa chất như hydroquinone từ năm này sang năm nọ để giữ cho trắng da lại nguy hiểm hơn vì các hóa chất này có thể gây ung thư và làm chết các tế bào da.

 

Sự tiêu tốn tiền bạc để trị nám da còn tệ hại hơn khi phụ nữ bị nám da thất vọng với kết quả chửa trị cũ và thử một loại sản phẩm mới được quảng cáo. Theo luật pháp Hoa Kỳ, mỹ phẩm không bắt buộc phải được Food and Drug Administration  (FDA) chấp thuận trước khi ra thị trường. Do đó mỗi ngày có hàng trăm sản phẩm mới được các thương nhân đưa ra thị trường.  Mặc dầu nhản hiệu và nội dung quảng cáo rất khác nhau, nội dung phẩm chất khoa học của các sản phẩm này không có gì khác biệt nhiều.  Do đó đưa người phụ nữ bị nám da đi từ thất vọng này đến thất vọng khác.  

 

Đó là chưa kể sự nguy hại của rất nhiều sản phẩm được quảng cáo là “thiên nhiên” nhưng ẩn chứa rất nhiều hóa chất như hydroquinone hoặc tretinoin. Điều này đã được nhấn mạnh bởi các BS Arefiev và Hantash tại Stanford University và các BSLadizinski, Mistry, và Kundu tại Yale University trong những xuất bản gần đây (Ladizinski et al, Dermatol Clin.  2011 Jan; 29(1):111-23, 

 

Arefiev và Hantash, Dermatologic Surgery 2012, May 14;)

 

Như vậy, lựa chọn đúng sản phẩm với phương pháp mới để chuyển hóa làn da mà không cần phải dùng các hóa chất để lột và tẩy da thật sự được nghiên cứu bởi các khoa học gia là một thử thách cho quí vị phụ nữ. Khoa học gia (KHG) về y khoa là các bác sĩ /tiến sĩ y khoa và bệnh học. Khác hơn các bác sĩ chuyên chữa bệnh theo các phương pháp đã có sẵn, hoặc các dược sĩ chuyên cho thuốc theo toa bác sĩ, các khoa học gia dành phần lớn thời gian và nổ̉ lực để nghiên cứu nhằm mục tiêu khám phá nguyên lý hoạt động của cơ thể từ mỗi tế bào và nguyên nhân gây bệnh hoặc các hoạt động bất thường, và tìm ra những phương pháp mới để trị bệnh hoặc giúp cơ thể tốt hơn.

 

 

Ngày nay, tất cả thông tin và các khám phá khoa học về y khoa có giá trị đều được công bố trên các đặc san khoa học (original publication) sau khi được đánh giá và công nhận bởi các hội đồng khoa học quốc tế, trong đó các giám khảo là các KHG hoặc BS có uy tín ở tầm vóc quốc tế (international peer reviewers). Đây chính là nguồn tài liệu uy tín được dùng để dẩn chứng hoặc tham khảo trong các sách giáo khoa để giảng dạy trong các trường đại học y, dược khoa.

 

Qua mạng internet, quần chúng có thể truy tầm các xuất bản khoa học này và tác giả qua trang mạng của Thư Viện Y Học Hoa Kỳ (U.S. National Library of Medicine), it nhất là để kiểm chứng các thông tin qua các quảng cáo thương mãi có thật hay không. Một công ty thật sự có sản phẩm được nghiên cứu bởi các khoa học gia không thể thiếu dẩn chứng. Đây là phương cách dể dàng nhất để khách hàng có thể phân biệt được một mỹ phẩm đúng, hay là “hàng chợ” của các thương hiệu khi đọc hoặc thấy một quảng cáo.

 

Bài viết này nhằm mục đích cung cấp những tin tức mới và chính xác nhất về chứng nám da và phương pháp chửa trị mới nhất.  Bắt đầu bằng là phần gỉải thích khoa học, đi từ nguyên lý hoạt động bình thường của tế bào da và màu da cho đến những nguyên do gây ra nám da. Các đề tài về mắt thâm quầng, tàn nhang, và đồi mồi cũng sẽ được đề cập đến. Kế đến là lý do tại sao các phương pháp trị liệu cũ như tẩy bằng hóa chất như hydroquinone, lột bằng retinoic acid hoặc các loại acid khác, cà da mặt (dermabrasion) hoặc laser/photo treatment sẽ gây ra nám trở lại sau khi ngưng trị. 

 

Phần sau là các hậu quả phụ của các phương pháp chửa trị, nhất là hydroquinone, là hóa chất bị lạm dụng nhiều nhất trong các sản phẩm trắng da trong thị trường người gốc Á Châu. Và cuối cùng là phần giới thiệu phương pháp trị nám mới và những kinh nghiệm khi trị nám da. 

 

Ban biên tập chúng tôi cố gắng chuyển đổi từ ngôn ngữ khoa học qua từ ngữ phổ thông để có thể dể hấp thu cho mọi giới.

 

Tham luận này dựa trên những nghiên cứu và những biên khảo mới nhất của các khoa học gia của Dr Vu Cosmeceuticals cũng như từ các đại học viện danh tiếng như Havard, USA and Heidelberg, Germany, v.v… đã được các hội đồng khoa học quốc tế chấp nhận cho xuất bản trên những nguyệt san khoa học về ngành da quốc tế đứng đầu thế giới (10 nguyệt san đứng đầu toàn ngành y hoặc 5 nguyệt san đứng đầu ngành da liễu). Các tin tức đều có dẩn chứng và được in màu xanh hay tím.  Khi bấm vào đó, đọc giả sẽ được dẫn vào tài liệu đó được lưu trử trong. Thư Viện Y Học Hoa Kỳ.

 

 

Khoa Học Về Màu Da

 

Màu da của bạn được tạo bởi nguyên tố tạo màu gọi là melanins trong phần epidermis. Chất melanin được chế tạo bởi tế bào tạo hắc tố (melanocyte) để chuyễn qua các tế bào da của lớp biểu bì (keratinocytes) để bảo vệ các tế bào này từ tia tử ngoại của mặt trời.  Có 2 loại melanins, eumelanins (hắc tố màu nâu đen) và pheomelanins (cam tố màu đỏ-vàng). 

 

Từ những năm 1950s khoa học đã biết rõ là tỷ lệ sản xuất eumelanins/ pheomelanins của melanocytes khác nhau và phản ảnh các loại màu da khác nhau. Những dân tộc có da đậm màu như ở Châu Phi thì có tỷ lệ này cao hơn, có nghĩa là da của họ có nhiều chất eumelanin hơn.  Ngược lại, trong da của người da trắng như dân Âu Mỹ thì tỷ lệ này thấp hơn, có nghĩa là da của họ có nhiều chất pheomelanin hơn. Tỷ lệ này được quyết định bởi gene trong hạt nhân của tế bào chứ không do sự ăn uống. Phụ nữ Á Châu có màu da ngăm nhẹ rất đẹp, không quá trắng như dân Âu Mỹ và cũng không đậm quá như dân Châu Phi.  Đó là do sự quân bình của da trong việc chế tạo hai chất eumelanin và pheomelanin.

 

Chất melanins được chế tạo trong các hạt vi cầu trong tế bào melanocyte gọi là melanosomes. Bằng nhiều nguyên bào chuyển đổi (enzymatic reactions), chất axit amin tyrosine được chế thành hắc tố melanin.  Một trong những nguyên bào chính để làm việc này là tyrosinase. Melanocyte chuyển các các hạt vi cầu chứa hắc tố (melanosomes) qua các tế bào da lân cận, nơi chúng bám xung quanh hạt nhân để bảo vệ nó từ sự tấn công của các bức xạ tia cực tím UV (xem hình vẻ). 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi dang nắng, các tế bào da sẽ tiếp nhận tia cực tím UV từ ánh mặt trời.  Phản ứng tự vệ đầu tiên của tế bào da là tiết ra những kích thích tố có thể kích thích tế bào melanocytes tạo ra nhiều hơn hắc tố melanin trong các hạt vi cầu melanosome.  Các tế bào melanocytes nằm ở lớp thấp nhất của lớp biểu bì gọi là basal layer. Trung bình cứ mỗi tế bào melanocyte có 10 tế bào da keratinocyte nằm chung quanh. Tế bào melanocyte, giống như con bạch tuột, dùng các chiếc vòi đưa các hạt vi cầu melanosome chứa hắc tố vào các tế bào da chung quanh và bên trên, do đó da quí vị sẽ sậm lại.  Khi vào lại trong bóng mát, tế bào da không tạo kích thích tố nữa, hắc tố melanin ngừng chế tạo hoặc giảm đi, và hắc tố melanin trong các hạt vi cầu đã được chế tạo sẽ bị phân hủy, do đó da quí vị sẽ sáng lại.

 

Hoạt động của các melanosomes nhiều hơn trong phần da đậm màu. Tốc độ tăng trưởng của melanocytes và sự sản xuất chất melanin được kiểm soát chặt chẽ bởi sự giao tiếp giữa các tế bào da qua các tiết tố (cytokines) như là chất melanocortins (tiết ra từ trung khu thần kinh) và các tiết tố khác tiết ra bởi các tế bào da qua hệ thống nguyên bào tiếp cảm (receptors).  Sự thay đổi hormones trong cơ thể người phụ nữ (quan trọng nhất: estrogen và progesterone) theo tuổi tác hoặc để thích ứng lại sự thay đổi của cơ thể gây ra bởi các yếu tố bên trong hoặc bên ngoài đều có ảnh hưởng rất lớn vào hoạt động của tế bào melanocyte chế tạo melanin, do đó ảnh hưởng màu đậm lợt ở mỗi vùng da.

 

Nám Da - Nguyên Do Gây Nám Da

 

Dựa trên các khám phá khoa học gần đây nhất, nguồn gốc của các chứng nám da (Hyperpigmentation) như nám tự nhiên (melasma), nám sau khi sinh (chloasma) và nám da sau khi viêm (postinflammatory hyperpigmentation), v.v…, bị gây ra bởi sự bất thường trong giao tiếp (communication) giữa các tế bào tạo hắc tố và các tế bào da chung quanh, cũng như với cơ thể.  Hậu quả là số lượng melanocytes, melanosome, cũng như eumelanin tăng không đồng đều, hoặc mất thăng bằng trong tỉ lệ chế tạo chất eumelanin và pheomelanin, hoặc sự mất khả năng của da phân hủy các hắc tố đã được tạo ra trong một số vùng da. Tùy vào mỗi trường hợp, dẩn đến da bị nám từng mảng đậm trên mặt da (superficial melasma), tàn nhang hoặc nám nâu mờ sâu dưới tầng thấp nhất của lớp biểu bì (deep epidermal melasma), hoặc nám nằm sâu dưới lớp bì (dermal melasma), đồi mồi (age spots), hoặc nám lem nhem (uneven skin).  

 

Tàn nhang: Chứng nám da rất phổ biến trong cộng đồng dân da màu (phụ nữ Á Châu, Phi Châu, Nam Mỹ v.v…) nhưng rất ít khi xảy ra cho dân da trắng.  Ngược lại, phụ nữ da trắng hay bị Freckles (“tàn nhang”).  Ngược lại với tàn nhang của dân da màu, một vài chứng freckle của phụ nữ Âu Châu gây ra do sự thiếu hụt một vài nguyên bào quan trọng trong quá trình chế tạo chất melanin vì sự hư hại trong gene của các nguyên bào đó. Thí dụ như sự hư hại trong trình tự gene của nguyên bào melanocotin receptor loại 1. 

 

Trong trường hợp này, "tàn nhang" là vùng da bình thường trong khi các vùng da trắng chung quanh là vùng da bị mất một phần khả năng tạo hắc tố melanin do đó trắng hơn.  Do dó vào mùa hè thì "tàn nhang" đậm hơn và vào mùa đông thì "tàn nhang lạt hẳn đi hoặc biến mất đi.  

 

Đến nay vẫn chưa có phương pháp thực tế để sửa chửa sự hư hại trong trình tự gene trong cơ thể nói chung hoặc trong của nguyên bào melanocotin receptor nói riêng.  Do đó, ngược lại với các loại nám da xảy ra cho dân da màu, tàn nhang xảy ra cho dân da trắng không chửa được. Các phương pháp tẩy bằng hóa chất hoặc laser chỉ giúp làm lạt bớt màu da tại các dấu tàn nhang vào mùa nắng.  Tuy nhiên ngày nay vào mùa nắng phụ nữ Âu châu bị freckles hay ưa chuộng phương pháp phơi nắng hoặc tanning để kích thích da tạo ra hắc tố để màu da đậm lên và điệp lại với freckes.

 

Nám da và tính di truyền: Tại sao có những người bị nám trong khi những người khác thì không. Lý do chính là do khả năng của tế bào da thích ứng với môi trường mổi người mỗi khác.  Khả năng đó được định đoạt bởi hoạt động của hơn 98% chuổi DNA không mang mã (gene) trong hạt nhân của tế bào (None-coding DNA, epigenome).  Do đó mang tính di truyền, hoặc ít hoặc nhiều. Những khám phá khoa học mới nhất này đã giúp thay đổi trong quan niệm chửa trị các căn bệnh kinh niên: không chửa hiện tượng mà cần phải chửa tận gốc bằng phương pháp chuyển hóa tế bào (Transformation).

 

Như vậy, định nghĩa của nám da là nám mà các tế bào da không thề tự thích ứng và tự chỉnh được. Những yếu tố gây nám da sẽ được đề cập sau chỉ là yếu tố khơi mào cho chứng nám da trong những cá thể có khuynh hướng bị nám da và làm cho hiện tượng trở nên tệ hại hơn. 

 

Thí dụ điển hình về khả năng thích ứng tự nhiên cuả da trong việc điều khiển và điều chỉnh mức độ tiết xuất hắc tố dưới những thay đổi trong cơ thể là trường hợp nám khi có thai hoặc sau khi sanh do hormone thay đổi (Chloasma). Hơn 50% trường hợp nám sẽ tự động mất đi trong vòng khoảng 6 tháng.  Tương tự, phần lớn các trường hợp lần đầu tiên bị nám do dang nắng hoặc do thay đổi trong cơ thể, hoặc do viêm hay phỏng da cũng sẽ tự động mất đi trong vòng khoảng 6 tháng mà không cần phải chửa. 

 

Bởi vì nám da là vấn đề thẩm mỹ chứ không phải là một căn bệnh có tổn hại đến sức khoẻ, nám da chỉ cần chửa khi chúng không tự mất đi hoặc trở nên nặng hơn và làm ảnh hưởng quí vị nhiều về vấn đề tâm lý.

 

Vòng mắt bị thâm quần và bị sụp bọng mở, nguyên do có liên quan đến nhiều yếu tố bao gồm quá nhiều hắc tố, các mạch máu tỉnh mạch li ti ở bề mặt da nổi lên (microvesicular engorgement), ứ nước quanh vòng mắt, các tế bào mỡ duới da tích tụ mỡ nhiều hơn bình thường, hoặc sự suy sụp của các mô liên kết bên dưới làn da. Hàng triệu tỉnh mạch li ti ở mặt da nổi lên chung quanh vòng mắt là yếu tố chính gây ra vòng mắt thâm quần khi bi mất ngủ. Vì tỉnh mạch mang máu sậm chứa khí carbonic trở về tim, mất thâm quầng thường có màu xanh đen thay vì nâu đen thấy trong nám da.  Chuẩn y các yếu tố trên một cách thành công là nguyên lý hoạt động của sản phẩm “Eyezone Solution” của công ty Dr Vu Cosmeceuticals. 

 

Yếu Tố Kích Thích Nám Da

 

Trong phụ nữ, hormone nữ tính esrtogen và progesterone ảnh hưởng rất nhiều lên sự hoạt động và phát triển của các tế bào da. Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo làn da của phụ nữ khác hẳn nam giới.  Hormone estrogen chi phối hoạt động của cả hai loại tế bào keratinocyte và melanocyte qua nguyên bào tiếp cảm estrogen receptors. Trong khi đó, hormone progesterone chỉ chi phối hoạt động của keratinocyte qua nguyên bào tiếp cảm cho progesterone.

 

Sự thay đổi của hormone (ví dụ: mang thai, tuổi dậy thì, tuổi trưởng thành, và vào thời gian mãn kinh), sự lo lắng và căng thẳng (stress) trong cuộc sống, Genetics, viêm, thuốc (thuốc ngừa thai và một số các loại thuốc khác), và sự điều trị da bằng tia laser/photo therapy thường là những yếu tố góp phần dẫn đến sự xáo trộn trong hoạt động bình thường của da và do đó gây ra hoặc làm nám da trở nên tệ hơn. 

 

Nám vào thời kỳ mản kinh, sau khi sanh, hoặc do dùng thuốc ngừa thai: là những thí dụ điển hình nhất trong trường hợp nám gây ra do thay đổi bất thường hoạt động của các homone Estrogens và progesterone trong phụ nữ. Mức độ keratinocytes kích thích melanocyte tiết xuất hắc tố chịu ảnh hưởng rất nhiều do sự thay đổi lượng estrogen và progesterone.

 

Bốn loại estrogens chính được chế tạo là estradiol, estetrol, estriol, và estrone. Estradiol là loại mạnh nhất và có vai trò quan trọng nhất trong suốt thời kỳ còn kinhđược sản xuất chủ yếu từ buồng trứng và hoàng thể trong buồng trứng (tuyến tạm thời sinh ra vào giai đoạn sau của mỗi chu kì kinh nguyệt).  Tuy nhiên khi có thai thì estriol và estetrol được sản xuất chủ yếu từ placenta (nhau thai), và sau khi dừng kinh thì estrone có vai trò quan trọng nhất. Lượng estrogens và progesterone trong cơ thể thay đổi điều hoà trong mỗi thời gian trong tháng và theo lứa tuổi. 

 

Tuyến hoàng thể tiết ra một lượng lớn progesterone và estradiol vào giai đoạn sau của mỗi chu kì kinh nguyệt. Khi mang thai hoặc sau khi dừng kinh, tuyến hoàng thể không còn và do đó sự tăng vọt lượng estrogen và progesterone vào giai đoạn này của mổi chu kì không còn nữa. Đây là một trong những yếu tố chính gây ra nám trong một số phụ nữ vào những giai đoạn này. Riêng trong trường hợp nám sau khi sanh (Chloasma), sự thay đổi đột xuất của lượng hormone cung cấp bởi nhau thai (placenta) là nguyên nhân quan trọng không kém.

 

Một số estrogen cũng được sản xuất với số lượng nhỏ hơn trong các cơ phận khác như gan, tuyến thượng thận, tuyến vú và tế bào mỡ.  Nguồn estrogen nhỏ này đặc biệt quan trọng ở phụ nữ sau mãn kinh (đây là một trong những lý do vào thời kỳ mản kinh, quí vị phụ có tạng người tròn thường ít bị nám da).

 

Hoạt động của các tế bào da nhất là mức độ tiết xuất hắc tố dưới ánh nắng do melanocytes khi được kích thích bởi tế bào da keratinocytes dưới ảnh hưởng của estrogen và progesterone thích ứng một cách nhuần nhuyễn với sự thay đổi tự nhiên này của hormone. Kể cả những thay đổi hormone đột ngột trong cơ thể khi sinh con hoặc dừng kinh, hoặc bị bệnh (gan, thận v.v…) hoặc tác nhân đưa vào cơ thể từ bên ngoài như thuốc ngừa thai (có chứa các hormone như estrogen và progestin nhân tạo).  Do đó bình thường phần lớn chúng ta không bị nám da.  

 

Tuy nhiên trong một số cá thể, do khả năng của tế bào da thích ứng với môi trường, định đoạt ở mức độ epigenome, có khác biệt nên đưa đến tương tác bất thường giửa các các tế bào da, da mất khả năng thích ứng tự nhiên trong việc điều khiển mức độ tiết xuất hắc tố dưới những thay đổi của hormone trong cơ thể.  Do đó nám sinh ra.  

 

Nám Sau Khi Bị Phỏng Da Hoặc Bị Mụn (Post-inflammatory hyperpigmentation). Khi bị phỏng, lớp biểu bì bị mất đi.  Da tự động gầy dựng lại lớp biểu bì mới, bắt đầu từ một lớp đầu tiên (basal layer).  Sau đó số lớp tế bào tăng lên cho đến khi có được một lớp biểu bì hoàn chỉnh.  Trong quá trình này, khi lớp biểu bì còn quá mỏng, sức đề kháng chống lại UV còn yếu, hoạt động tự nhiên của da là tạo ra nhiều hắc tố để bảo vệ lớp tế bào non trẻ khi làn da non lộ ra ánh sáng và tạo ra vết da đậm màu.  Số hắc tố này sẽ ở lại lớp biểu bì cho đến khi da trưởng thành và thay theo chu kỳ tự nhiên.  Thường cần khoảng sáu tháng. Tuy nhiên, nếu sau một thời gian lâu mà vết thâm không mất đi thì chúng bị xem như là chứng nám da.

 

Nguyên lý chung xảy ra trong trường hợp vết thâm sau khi bị mụn.  Riêng trong trường hợp này đôi khi tế bào tạo hắc tố bị gói trong biểu bì của chân lông (follicular cell) nằm trong lớp bì.  Trong môi trường không thích hợp này, chúng liên tục tiết ra hắc tố một cách bừa bải và tạo ra nám sâu dưới da (dermal melasma).

 

Hóa chất tiếp xúc trong công việc làm hằng ngày: tỉ dụ như chất Acetone trong ngành làm NAIL hoặc khói hàn chì trong công nghệ điện tử, xảy ra cho quí vị làm lắp ráp trong các hảng điện tử.  Yếu tố chính gây nám da trong quí vị làm ngành NAIL sau nhiều năm là hơi ACETONE.  Đây là hóa chất dùng làm dung môi trong sơn móng tay. Các khoa học gia xử dụng acetone để giết chết các tế bào da (fixation) đã được cấy trong phòng thí nghiệm để quan sát chúng dưới kính hiển vi. Ngược lại, trong ngành NAIL, tiếp xúc hơi acetone lâu ngày sẽ ngấm vào da và gây rối loạn trong hoạt động và sự tương tác giữa các tế bào da. Do đó gây nám da và các vấn đề da khác.

 

Ultraviolet radiation: Dang nắng/nóng quá mức: Một khi hoạt động của các tế bào da đã bị rối loạn, dang nắng quá độ (phơi nắng ngoài bải biển), làm việc dưới ánh đèn UV (Nail, Dentists, Dental assistants), hơi nóng (đầu bếp nhà hàng) v.v... các yếu tố này đều kích thích quá độ hoạt động của da trong việc tiết hắc tố do đó có thể gây ra nám da hoặc làm nám da trở nên nặng hơn.

 

Như vậy khi bị nám da, điều quan trọng cần phải hiểu về nguyên nhân của nám da là do sự hoạt động bất thường của các tế bào da chứ không phải là do các bệnh nội thương (thí dụ: đau gan!).  Trong các trường hợp nám trong các bệnh nhân bị bứu tuyến thượng thận (adrenal tumor/Adison’s Disease) hoặc tuyến giáp (thyroid), các bệnh ấy không gây ra nám cho mọi bệnh nhân mà chỉ làm bệnh nhân đã có gốc bị nám trở nên đậm hơn do tiết xuất quá độ adrenocorticotrophic hormone kích thích tế bào melanocyte mà da không thể thích ứng được.

 

Tin tức sai lầm cho rằng nám da trở lại nặng hơn sau khi trị bằng hóa chất (thí dụ: kem trộn ở Việt Nam hoặc một số kem trị nám tại Hoa Kỳ có chứa nhiều hydroquinone), lột/mài da (exfoliation, dermabrasion), hoặc photo/laser therapy là do gan yếu hoặc bệnh trong cơ thể thường là cách biện hộ vô căn cứ.

 

Nám da trở lại nặng hơn sau khi trị bằng hóa chất, lột/mài da, hoặc laser/photo therapy thực ra là do gốc gây ra nám không chửa được cộng thêm hậu quả của phản ứng phụ của phương pháp chửa trị, sẽ được phân tích chính xác trong phần khảo luận khoa học tiếp theo sau.

 

Tóm Lược Kết Quả Trị Nám Da Bằng Các Phương Pháp Cổ Điển Đã Xuất Bản Từ Năm 1965 Trên Các Đặc San Khoa Học

 

Sự thật rõ ràng nhất về các cách trị nám phổ thông hiện nay là chủ yếu trị tạm thời hiện tượng nám chứ không trị tận gốc gây ra nám.  Do sự hiện diện của rất nhiều quảng cáo thương mãi với những thông tin sai lầm về hiệu quả và hậu quả của các phương pháp trị nám cổ điển như dùng hóa chất hoặc tia laser, phần tham luận kế sẽ sáng tỏ vấn đề bằng trích dẫn xuất bản chung tóm lược kết quả lâm sàng của các giáo sư bác sĩ (GSBS) Gupta, Gover, Nouri, và Taylor của các trường đại học New York Sunnybrook, Columbia University, University of Florida, USA, và University of Toronto, Canada, xuất bản vào năm 2006 trên nguyệt san Journal of American Academy of Dermatology 

 

(Gupta et al, J Am Acad Dermatol 2006;55:1048-65)

 

Xuất bản này tóm lượt kết quả lâm sàng của nhiều cách trị nám khác nhau đã được xuất bản trong hơn 70 văn bản từ các trường đại học y khoa từ năm 1965 đến 2005.

 

Hóa chất: Mặc dầu các sản phẩm mang nhiều thương hiệu khác nhau, công thức chính thường chứa các hóa chất hydroquinone, retinoic acid (tretinoin), các loại alpha/beta hydroxy acid, và glucocorticosteroids.  Trong các hóa chất này, hydroquinone là chất có tác dụng mạnh nhất để tẩy trắng da. Các hóa chất này có tác dụng làm mờ vết nám, chỉ thường chận đứng một giai đoạn trong quá trình chế tạo hắc tố, ngăn không cho hấc tố tiết ra (melanin synthesis inhibition), hoặc chỉ lột đi lớp da chứa hắc tố đã tiết ra rồi (skin peels).  

 

Dermabrasion/Cà Da Mặt: Phương pháp dùng giấy nhám hoặc bàn chải sắt mịn để cà đi lớp da bị nám. Có thể dùng tạm nhưng không nên dùng như là phương cách chính.  Hậu quả có thể gây ra thẹo, lổ chân lông lớn, viêm da và nám sau khi viêm v.v…

 

Laser Treatment: Phương pháp đốt và tẩy da, theo đúng nghĩa áp dụng cho phương pháp phá hủy tế bào melanocyte hoặc hạt melanosome chứa hắc tố bằng nhiệt ánh sáng (photothermalysis) của tia laser.

 

Mặc dầu phương pháp trị liệu bằng laser trong y khoa đã có từ thập niên 1960s, đến năm 1983, các KHG Parrish và Anderson của trường đại học Harvard mới đưa ra phương pháp dùng luồng tia laser với bước sóng 577nm (visible) và 351nm (near-ultraviolet) để phá hủy các mạch máu li ti trong da và tế bào melanocyte.  Trong phòng thí nghiệm, với một luồng XeF excimer laser với bước sóng 351nm trong 20 nanoseconds, các hắc tố sẽ hấp thu năng lượng của tia laser và do đó tế bào melanocyte nhất là hạt melanosome sẽ bị hâm nóng lên cho đến lúc bị phá hủy (photothermalysis). 

 

(Parrish and Anderson: Science. 1983 Apr 29; 220(4596):524-7.)

 

Phương pháp trên còn được gọi là Intense Pulsed Light (IPL) therapy, hoặcphotofacial. Trong thực tế lâm sàng, IPL/photofacial không đủ hiệu quả để làm mờ vết nám sâu và lâu vì hạt melanosome hình thành trở lại và vết nám có thể đậm hơn. Một phần do Laser 355nm có tác dụng tương tự tia UV, là một trong những yếu tố kích thích gây ra nám. Năm 1989 KHG Anderson cùng các cộng tác viên cũng tại trường đại học Harvard đưa ra phương pháp dùng Q-switched Nd: YAG laser với bước sóng 1064 nm để phá các tế bào melanocyte có chứa hạt melanosome ở tầng sâu nhất của lớp biểu bì là lớp bao bọc chân lông (follicular layer). Mặc dầu laser với nhiều bước sóng khác nhau đã được thử, ngày nay khi nói đến laser treatment để trị nám là nói đến Q-switched Nd: YAG 1064 nm laser. 

 

(Anderson et al: J Invest Dermatol. 1989 Jul; 93(1):28-32.)

 

Laser treatment mặc dầu mạnh và hửu hiệu hơn IPL/photofacial, nhưng cũng mang những hậu quả tương tự như IPL/photofacial.  Tóm lượt kết quả trị nám của các GSBS Gupta, Gover, Nouri, và Taylor đã kết luận: hydroquinone vẫn là phương pháp phổ biến và hiệu quả nhất trong các phương pháp nói trên. Các phương pháp còn lại cũng là những lựa chọn. Kết quả lột nám bằng glycolic acid peels là một phương pháp rất hứa hẹn. Laser treatment cũng có hứa hẹn tuy không hơn. Do đó phương pháp hiệu quả hơn thường được dùng là kết hợp chung: hydroquinone + tretinoin + glucocorticosteroid, dermabrasion + hydroquinone, laser + dermabrasion, laser + hydroquinone v.v…  Tuy nhiên, vấn đề khó khăn nhất cho tất cả các phương pháp trên, dù cho dùng một mình hay tổng hợp, là cơ hội rất cao nám sẽ trở lại và có thể trở nên nặng hơn, nhất trong dân da màu.

 

Laser treatment chỉ phá hủy hạt mang hắc tố và tế bào tạo hắc tố chứ không trị gốc gây ra nám. GSBS Sheth và Pandya của trường đại học Harvard, trong xuất bản năm 2011 cũng khẵng định rằng laser treatment, tuy có thể dùng trong trường hợp các phương pháp khác không đạt được hiệu quả, nhưng cũng có cơ hội rất cao là sẽ làm nám trở nên nặng hơn, nhất trong dân da màu. 

 

(Sheth and Pandya: J Am Acad Dermatol. 2011 Oct;65(4):699-714)

 

Tuy phương pháp trị nám bằng laser đã có mặt hơn 25 năm, trong những năm gần đây, phương pháp này trở nên rất phổ biến.  Lý do không phải là do phương pháp này hiệu nghiệm hơn các phương pháp khác như đã dẩn chứng ở trên. Lý do chính là do dụng cụ bắn tia laser do các công ty sản xuất ra rất nhiều, rất dể dùng, và không mắc tiền để mua. Tuy nhiên hiểu rõ nguyên lý xữ dụng laser lên da không đơn giản.

 

Điều quí vị cần lưu ý khi muốn trị nám bằng tia laser là sự an toàn cho quí vị. Có những trường hợp người mang bệnh tự kháng trong da (skin autoimmune diseases) đã hoặc chưa được phát hiện, khi dùng laser hoặc phofacial treatment sẽ rất nguy hiểm vì phương pháp photothermalysis này sẽ đưa thêm các kháng nguyên (antigens) vào máu và sẽ làm bệnh tự kháng tấn công dử dội, như trong trường hợp bệnh nhân với bệnh Behcet's disease. 

 

(Cho et al: Acta Derm Venereol, 

2010 May;90(3):299-300)

 

Theo luật pháp của tiểu bang California và phần lớn các tiểu bang khác của Hoa Kỳ, chỉ có các bác sĩ (physicians), các phụ tá bác sĩ (lisence medical assistant) và y tá chính qui (registered nurse) dưới sự giám sát của bác sĩ mới được phép sữ dụng các dụng cụ laser hoặc intensive pulse light trên quí vị. Physician, theo luật là bác sĩ tốt nghiệp bằng Medical Doctor và có bằng hành nghề.  Các dược sĩ (pharmacy doctor) không phải là bác sĩ và không được phép sữ dụng các dụng cụ laser hoặc intensive pulse light trên quí vị.  Tương tự, các trợ y (Unlicensed medical assistants, licensed vocational nurses) hoặc y tá chính qui hành nghề một mình, hoặc chuyên viên thẩm mỹ (cosmetologists, electrologists, or estheticians) cũng không được phép xữ dụng các dụng cụ laser hoặc intensive pulse light trên quí vị.

 

 

 

(State of California, Department of Consumer Affairs, The Medical Board of California)

 

 

Thuốc uống để trị nám: Tuy có một số xuất bản cá biệt trên một vài nguyệt san y khoa ở cấp thấp (low ranking) quảng cáo hiệu quả trị nám của một vài thuốc uống, thí dụ như chất chiết từ vỏ cây tùng Pycnogenol hoặc hạt nho có thể giúp nám nhẹ bớt.  Tuy nhiên vì dử kiện trong các xuất bản này còn quá yếu, và đã nhiều năm không thể kiểm chứng lại được bởi các nhóm KHG khác, các xuất bản đó không có giá trị thật sự.  Riêng về chất collagen dùng để trị nám thì hoàn toàn không có một xuất bản khoa học nào.  Lý do đơn giản là chỉ dựa trên kiến thức khoa học căn bản, ý kiến collagen để trị nám là hoàn toàn phản khoa học và hoàn toàn vô giá trị. Nói tóm lại, hiện nay không có một loại thuốc uống nào có thể trị nám.

 

 

Hậu Quả Phụ Khi Dùng Hydroquinone Để Trị Nám. 

 

Trong các xuất bản y học của các GSBS ngành da cũng như trong sách giáo khoa Dermatology cập nhật nhất, hydroquinone được khuyến cáo là không nên dùng quá một năm. Nếu trong vòng 4-6 tháng mà nám không bớt, bệnh nhân nên ngưng dùng hydroquinone và dùng phương pháp khác.   

 

Lý do quan trọng nhất là do những hậu quả phụ của hydroquinone khi dùng lâu quá. 1)-Khả Năng Gây Ung Bứu (carcinogen) 2)-Khả năng làm chết dần mòn các tế bào da (cellular atrophy) 3)-Khả năng gây ra các vết da dầy và xanh đen khó chửa được (exogenous ochronosis) v.v…

 

Có một sự tranh luận về vấn đề nguy hại trên các tế bào của sự xữ dụng hydroquinone quá lố giữa các GSBS/KHG về ngành da (thường phục vụ nghiên cứu và giảng dạy dermatology trong các trường đại học) và các bác sĩ dermatologists hành nghề tư về thẩm mỹ, chuyên cho hydroquinone để trị nám và tẩy da, là một nguồn lợi lớn trong việc hành nghề của họ. Thảo luận vấn đề này cần kiến thức sâu về khoa học của ngành da, do đó phần phân tích theo đây được viết bởi KHG Nguyễn Thượng Vũ.  

 

Ông là KHG Việt Nam duy nhất đã từng khám phá 3 molecules và vai trò của chúng trong con người và đã khám phá hội chứng PAMS, là hội chứng bệnh tự kháng của Biểu mô trong bệnh nhân bị ung thư và nguyên lý bệnh học của PAMS, và đã từng nhận giải thưởng The World Congress Award tại hội nghị Khoa học ngành da toàn thế giới.  Ông đã từng phục vụ là international peer reviewer cho các đặc san khoa học quốc tế đứng đầu cùa y khoa nói chung và dermatology nói riêng như Journal of Clinical Investigation và Journal of Investigative Dermatology. Như vậy ông có đủ thẩm quyền để có thể đánh giá một cách chính xác vấn đề này. 

 

Dẩn chứng cho phần khảo luận kế đến chỉ dựa trên những xuất bản trên những đặc san khoa học uy tín nhất. Các bài viết do chỉ một tác giả trên các nguyệt san khoa học ở mức độ thấp hoặc các trả lời của các BS có tính cá nhân trên internet sẽ không được đề cập đến vì tính cách chủ quan và mức độ giá trị của các tài liệu đó.

 

Hydroquinone là một hóa chất được dùng rất nhiều trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Trước đây hóa chất này được dùng nhiều trong phim ảnh để rửa phim.  Từ năm 1936, KHG Oettel ở Germany khám phá ra khả năng của hydroquinone làm mất màu lông cùa mèo đen (OETTEL, HEINZ: Die hydrochinonvergiftung. Arch. F. Exper. Path. U. Pharmakol.183: 319 (1936). Khám phá này đã được lập lại thành công bởi các khoa học gia khác. Suốt 15 năm sau đó có nhiều báo cáo về sự mất màu da trong các công nhân làm việc với hóa chất hydroquinone (OLIVER et al.: Occupational leukoderma. J. A. M. A. 

 

 

113: 927 (1939); SCHWARTZ et al.: Occupational leukoderma. Pub.Health Rep. 55: 1111 (1940). 

 

 

 

 

 

Năm 1950, BS Pollock đã chứng minh rằng hydroquinone có thể được dùng để trị nám da trên con người (Pollock: Arch Derm Syphilol. 1950 May; 61(5):873-5.)  Sau đó hydroquinone đã được dùng thịnh hành để trị nám.  Đã có nhiều thay đổi trong cách dùng hydroquinone. Năm 1975, GSBS Kligman tại University of Pensylvania đưa ra công thức tổng hợp 0.1% tretinoin, 5.0% hydroquinone, 0.1% dexamethasone để tri nám (Kligman and Willis, Arch Dermatol. 1975 Jan; 111(1): 40-8.) Đây có lẽ là công thức thịnh hành nhất trong các thập niên vừa qua, thường thấy trong các sản phẩm như Tri-luma, Obagy, và rất nhiều thương hiệu khác v.v...

 

Về nguyên lý hoạt động của hydroquinone, năm 1951, KHG Denton và cộng tác viên tại University of Michigan khám phá hyroquinone ngăn chận sự chế tạo hắc tố melanin (Denton et al, J Invest Dermatol. 1951; 18: 119-135). Năm 1991 KHG Palumbo tại University of Naples, Italy, khám phá ra Hydroquinone găn chận sự chế tạo hắc tố melanin bởi ngăn chận hoạt động của enzyme tyrosinase (Palumbo et al, 1991 Jan 23;1073(1):85-90).

 

Trong các phương pháp trị nám cổ điển, kể cả laser treatment, hydroquinone dùng một mình hoặc chung với một vài hóa chất khác, là phương pháp hữu hiệu nhất.  Do đó trước đây đã từng được xem như “tiêu chuẩn vàng” (gold standard) để trị nám.  Tuy nhiên, ngày nay, do biết được khả năng có thể gây những hệ quả tai hại, thêm vào là sự tái xuất của nám sau khi trị, Hydroquinone không còn là “gold standard” nữa; các KHG phải nổ lực tìm phương pháp mới để trị nám.

 

Hydroquinone là hoạt chất chuyển hóa từ hóa chất benzene khi vào cơ thể. Hoá chất benzene đã từng được biết gây ra ung thư máu (leukemogen). Năm 1990 KHG Leanderson và Tagesson tại Linköping University, Thụy Sỹ đã tìm biết được hydroquinone là một trong những hoạt chất độc hại trong thuốc lá có thể gây tổn hại hạt nhân của tế bào. 

 

 

 

(Leanderson and Tagesson, Chemistry Biology Interact, 1990; 75(1): 71-81)

 

 

 

 

Năm 1991, KHG Shibata và Ito tại Nagoya City University, Nhật Bản, dùng chuột để thử khả năng gây ung thư của hydroquinone và đã chứng minh được hóa chất này có thẩ gây ung bứu trong ống thận và trong gan.  (Shibata et al, Japanese Journal of Cancer Research, 1991 Nov; 82(11): 1211-9.) Thí nghiệm của các KHG này đã được lập lại thành công tại nhiều trung tâm nghiên cứu khác nhau kể cả National Institute of Environmental Health Sciences của Hoa Kỳ (Kari et al, Food Chem Toxicol. 1992 Sep; 30(9): 737-47). 

 

Bứu ống thận (renal tubular hyperplasia/adenomas) gây ra bởi hydroquinone trong thí nghiệm bằng chuột là kết quả được lập lại nhiều nhất.  Loại bứu này, ở mức độ nhẹ (hyperplasia) là nguyên nhân chính gây ra chứng suy thận trong con người do thận có túi (renal cystic disease), gây ra bởi biểu mô trong ống thận mọc nhiều hơn bình thường, làm ống thận dầy lên và bị nghẻn.

 

Để hiểu tầm mức quan trọng của nghiên cứu này, chúng ta cần hiểu một cách khái quát về phương pháp nghiên cứu y học của khoa học cận đại.

 

Hơn 95% các loại thuốc và phương pháp chửa bệnh mới trong y khoa ngày nay đều được nghiên cứu nhờ các thí nghiệm trên các động vật nhất là chuột (in vivo experiments).  Về nghiên cứu các căn bệnh kinh niên, nhất là ung thư, đây là mô hình thí nghiệm có giá trị nhất vì trong động vật sống nhỏ bé này đều có tất cả các cơ phận như trong con người.  Các chứng ung thư trong con người thường bắt đầu có mầm móng 5-15 năm trước khi gây ra triệu chứng và các tác nhân góp phần gây bệnh thường thâm nhập vào cơ thể từ từ mỗi lúc mỗi ít.  

 

Do đó, trong thực tế nghiên cứu khoa học, các KHG dùng chuột vì đời sống của chúng ngắn và chúng sinh sản rất mau (chuột có thai chỉ 20 ngày và đẻ nhiều con).  Thông thường liều lượng thuốc dùng trong thí nghiệm thường cao để có thể thấy kết quả trong một thời gian ngắn mà thí nghiệm cho phép. Một khi biết một chất có thể gây ra bệnh, các KHG sẽ dùng các phương tiện khác như dùng tế bào cấy trong phòng thí nghiệm để tìm hiểu thêm nguyên lý hoạt động của chất đó gây bệnh hay chửa bệnh. Nếu kết quả các thí nghiệm ăn khớp với nhau, giới hửu trách sẽ đưa vào thử nghiệm trên con người.

 

Trong trường hợp hydroquinone, sau khám phá về khả năng gây ung bứu trên mô hình động vật, các KHG tại University of California ở tại San Francisco và Berkeley, National Institute of Environmental Health Sciences ở tại North Corolina, University of Texas ở tại Austin, Jefferson Medical College ở tại Pennsylvania, University of Colorado ở tại Denver, Baylor College of Medicine ở tại Houston, Hoa Kỳ, University of Dundee Medical School ở Anh Quốc, Meikai University và Tohoku University ở Nhật Bản đã phổ biến kết quả của hàng loạt nghiên cứu chứng minh nguyên lý gây độc hại của hydroquinone lên tế bào (cytotoxicity), tác hại lên hệ thống đề kháng (immunotoxicity), và tác hại lên hạt nhân của tế bào (DNA damage, oxidation, v.v…) để dẩn đến khả năng gây ung thư. Dưới đây là một số dẩn chứng.

 

Kari et al, Food Chem Toxicol. 1992 Sep;30(9):737-47.

Whysner et al, Regul Toxicol Pharmacol. 1995 Feb;21(1):158-76.

 

 

 

 

Levay et al, Carcinogenesis, 1991 July:12(7):1181-6

 

 

Peters et al, Carcinogenesis. 1997 Dec;18(12):2393-401.

Hard et al, Toxicol Pathol. 1997 Mar-Apr;25(2):132-43.

Hutt and Kalf, Environ Health Perspect. 1996 Dec; 104 Suppl 6:1265-9.

Hazel et al, Environ Health Perspect. 1996 Dec;104 Suppl 6:1257-64.

Joshep et al, Br J Cancer. 1998 Aug;78(3):312-20.

Pyatt et al, Toxicol Appl Pharmacol. 1998 Apr;149(2):178-84; 

 

 

Pyatt et al, Cell Biol Toxicol. 2000;16(1):41-51.

Stillman et al, Leuk Lymphoma. 1999 Oct;35(3-4):269-81; 

Stillman et al,Exp Hematol. 2000 Feb;28(2):169-76.

 

Lau et al, Chem Res Toxicol. 2001 Jan;14(1):25-33.

 

Kerzic et al, Toxicology. 2003 May 3;187(2-3):127-37.

Gowans et al, Cancer Res. 2005 May 1;65(9):3527-30.

Terasaka et al, Anticancer Res. 2005 May-Jun;25(3B):2241-7.

Ji et al, Leukemia. 2010 May;24(5):986-91.

Imai et al, Genes Genet Syst. 2009 Feb;84(1):73-9.  

Và rất nhiều nghiên cứu khoa học khác.

 

Với quá nhiều chứng cớ khoa học rõ ràng như vậy, chúng ta không thể phủ nhận khả năng độc hại của hydroquinone, kể cả khả năng gây ung thư.  Do đó, sự phổ biến bừa bải chất hydroquinone như trong các mỹ phẩm trị nám và làm trắng da đã bị ngăn cấm tại 27 quốc gia trong liên hiệp Âu Châu, Úc, và Nhật Bản. 

 

Tại Hoa Kỳ, vào ngày 29 tháng 8, 2006, FDA đề nghị ngăn cấm phổ biến bừa bải sản phẩm chứa chất hydroquinone dựa trên chứng cớ hoá chất này có thể gây ung thư, và trên con người, Ochronosis, là đám da dầy và xanh đen xảy ra khi dùng hydroquinone. Vết nám xanh đen này rất khó trị. (FDA: FR Doc E6-14263).  

 

Dựa theo FDA, có khoảng 65 công ty lớn sản xuất hơn 200 sản phẩm làm trắng da. Thị trường khổng lồ là cộng đồng gốc Á Châu và các dân da màu khác.

 

Đề nghị này của FDA đã bị chống đối một cách mãnh liệt bởi giới BS dermatologists chuyên dùng hydroquinone. (Levitt J., J Am Acad Dermatol. 2007 Nov;57(5):854-72.). Ý kiến chính của các BS này là hiện nay chưa có chứng cớ văn bản nào cho thấy hydroquinone gây ung thư trong con người.  Tuy nhiên, nghiên cứu để liên hệ sự sử dụng hydroquinone và khả năng gây ra ung thư mà triệu chứng chỉ có thể thấy được rất nhiều năm về sau là vấn đề không đơn giản.

 

Hiện nay đề nghị ngăn cấm phổ biến bừa bãi sản phẩm chứa chất hydroquinone ở Hoa Kỳ của FDA vẫn chưa được áp dụng, đợi cho đến khi có thêm chứng cớ gây bệnh của hydroquinone trên con người. Cũng như những nghiên cứu về khả năng của hút thuốc lá gây ung thư, vào những thập niên 1940s và 1950s, không thiếu những hình ảnh quảng cáo thương mãi mang hình ảnh một bác sĩ mang ống nghe và ngậm thuốc lá, với tựa đề “thuốc lá là sức khỏe”. Ngày nay chứng cớ khả năng thuốc lá gây bệnh chết người đã quá rõ. Hội Y Học Hoa Kỳ, American Medical Association là một trong những lực lượng mạnh nhất đẩy mạnh việc chống thuốc lá tại Hoa Kỳ.  

 

Mặc dầu da bị hư hại do hậu quả phụ của việc xữ dụng quá lố hydroquinone xảy ra không it, cho đến nay chưa có một báo cáo chính thức của một nghiên cứu nào về hậu quả của việc xữ dụng hydroquinone để trị nám và làm trắng da trong cộng đồng người Việt.  Lý do chính là phần lớn quí vị bị nám da thường dùng sản phẩm bán tự do trên thị trường. Do đó giới BS chuyên nghiên cứu không có đối tượng để theo dỏi và kiểm chứng. 

 

Trong thực tế, bởi vì nám tái xuất sau khi ngưng trị bằng hydroquinone hay xảy ra, có rất nhiều phụ nữ dùng liên tục sản phẩm chứa nhiều hydroquinone nhiều năm.  Do đó số lượng người có da bị hư hại do hậu quả phụ không it.  Tệ nạn lớn nhất hiện nay là các sản phẩm ẩn chứa một lượng lớn hydroquinone và các hóa chất khác đang tràn lan trên thị trường người gốc Á Châu tại Hoa Kỳ. Do đó chính người sữ dụng không biết là mình đang dùng quá lố hydroquinone trong mỹ phẩm.  Vấn đề đang được cảnh báo bởi các xuất bản gần đây của các BS tại Stanford University và Yale University (Arefiev và Hantash, Dermatologic Surgery 2012, May 14;  Ladizinski, Mistry, và Kundu, Dermatol Clin. 2011 Jan; 29(1):111-23)

 

Phụ nữ Á Châu thường mong muốn có một làn da trắng.  Cho đến nay hydroquinone vẫn là hóa chất tẩy trắng da mạnh nhất có trong y học. Thêm vào đó có nhiều ý kiến cá nhân của một số BS thẫm mỹ phổ biến trên internet cho rằng hydroquinone không có hại.  Do đó khuyến khích các thương gia/công ty nhỏ kinh doanh mỹ phẫm cho rất nhiều hóa chất này vào các sản phẩm kem, serum, mặt nạ trắng da nhằm mục đích đạt kết quả một cách mau chóng, dễ cạnh tranh. Các thông tin về các sản phẩm này tuy không biểu hiện sự thật nhưng vẫn tạm thời tránh né được sự kiễm soát của FDA bởi vì các quảng cáo không bằng tiếng Anh mà chỉ bằng tiếng Hoa, Phi, và tiếng Việt trong các báo chí, radio, và truyền hình trong cộng đồng thiểu số. 

 

Trong một cuộc điều tra gần đây của FDA, cơ quan này đã thâu lượm mỹ phẩm có trên thị trường nhỏ dưới tên của khoảng 2000 thương hiệu khác nhau. Hơn 90% sản phẩm đã chứa những hóa chất và nồng độ không đúng luật cho phép.  Một số lớn thương hiệu không đăng ký và không có nguồn gốc rõ ràng. 

 

Chúng ta sẽ thấy trong thời gian tới cơ quan FDA sẽ có những biện pháp mới để kiểm soát vấn đề này để bảo vệ sự an toàn cho giới tiêu thụ.  Tuy nhiên trong hiện tại, vấn đề an toàn khi xữ dụng mỹ phẫm trong cộng đồng người thiểu số (ethnic community) như cộng đồng người Việt chúng ta ở Hoa Kỳ nằm trong vấn đề kiến thức và hiểu biết của người xữ dụng.

 

Đứng trên phương diện nghiên cứu khoa học, do sự phổ biến bừa bãi các sản phẩm chứa hydroquinone ở nồng độ cao trong thị trường người thiểu số, số lượng người tiêu thụ bị phản ứng phụ tăng lên rất nhiều. Do đó tạo điều kiện cho giới KHG chúng tôi có thêm dử kiện để đúc kết các nghiên cứu. Các phản ứng phụ thường thấy rõ nhất khi dùng nhiều và lâu hóa chất hydroquinone là tế bào da bị chết dần mòn (atrophy), do đó da mỏng (thinning) và suy sụp (sagging). Mụn thịt hiện lên nhiều trên da mặt, nhất là ở mí mắt và chung quanh vòng mắt.  

Mụn thịt không phải là mụn (acne) mà là những loại bướu hiền (benign tumor) của da. Thông thường nhất là bướu tuyến mồ hôi (sweat gland) còn được gọi là syringoma. Loại bứu này thỉnh thoảng xảy ra trên da của quí vị cao niên ngoài 70, tuy nhiên rất hiếm khi xảy ra cho giới trẻ và trung niên.

Do lớp sừng ngăn cản, các hóa chất khi bôi lên da thường chỉ có thể thâm nhập vào da qua các tuyến mồ hôi, nơi mà biểu mô không có lớp sừng.  Có lẽ đây là lý do biểu mô của tuyến mồ hôi bị ảnh hưởng tác hại của hóa chất nhiều nhất.

 

Mụn thịt là chứng cớ rõ ràng nhất để liên hệ khả năng gây bướu của biểu mô trong thí nghiệm dùng chuột (renal tubular epithelial hyperplasia/adenoma) và khả năng này trên biểu mô của con người. Tương tự như trong ống thận của chuột, trong trường hợp syringoma trong con người, biểu mô trong ống dẩn tuyến mồ hôi mọc nhiều hơn bình thường, làm ống dầy lên và bị nghẻn.  Mồ hôi tạo nên không có chổ thoát, nong ống to ra tạo thành túi (cysts). Tuyến mồ hôi vẫn tiếp tục phát triển tạo thành những cuộn ống và túi lẫn lộn tạo thành khối u nhỏ dưới da. (Đọc thêm: Nidal et al, J Clin Pathol. 2007 February; 60(2): 145–159.)

 

Trước đây không có phương pháp nào cho kết quả mỹ mãn để trị mụn thịt. Các phương pháp cắt (excision), đốt điện (electrodessication), lột bằng hóa chất (chemical peel), xức thuốc atropine hoặc tretinoin, đông lạnh bằng nitrogen lỏng (cryosurgery), và đốt bằng laser có thể làm hư lớp biểu bì gây nám, gây thẹo, và mụn thịt lại mọc trở lại (Hong et al, Ann Dermatol. 2010 Aug;22(3):367-9;  Cho et al,Dermatol Surg. 2011 Apr;37(4):433-8). Với phương pháp mới của Dr Vu Cosmeceuticals, transformation tuy chậm nhưng có thể từ từ làm các mụn thịt nhỏ dần và mất hẳn đi. 

 

Hiện nay vẩn chưa có chứng cớ hydroquinone gây ra những loại ung thư dử (malignant tumor) trong con người như thấy trong thí nghiệm trong chuột. Tuy nhiên khi y học phát triển hơn chúng ta có thể ngạc nhiên với những kết quả nghiên cứu mới.  Do đó, phòng bệnh hơn chữa bệnh.  Chúng ta cần phải rất thận trọng trong việc xữ dụng hydroquinone trên cơ thể chúng ta.

 

Nếu khả năng gây bướu của hydroquinone trên biểu mô của ống tuyến mồ hôi của con người cũng xảy ra trên biểu mô của ống thận thì hậu quả rất tai hại và rất khó để chứng minh vì thời gian không có triệu chứng kéo dài rất lâu.

 

Như vậy khả năng gây hại của hóa chất như hydroquinone trong mỹ phẫm là vấn đề thực tế và mức độ ảnh hưởng quần chúng rất lớn.  Đây là lý do sau nhiều năm thành công trong việc nghiên cứu căn bệnh pemphigus, là căn bệnh tự kháng của biểu mô và da rất hiếm nhưng rất quan trọng vì có thể gây tử vong, trong những năm gần đây, chúng tôi đã chuyển hướng dành nổ lực để nghiên cứu những phương pháp mới, an toàn và hiệu quả để chuyển hóa thẩm mỹ của làn da.  

 

Transformation (Chuyển Hóa): Phương pháp mới và hiệu nghiệm nhất để trẻ hóa làn da và trị nám tận gốc.

 

Cơ thể chúng ta bắt đầu trong bụng mẹ chỉ từ một tế bào, một nửa từ cha, một nửa từ mẹ. Từ một tế bào đó phát triển thành trăm, ngàn, triệu, tỹ tế bào tạo thành những cơ phận khác nhau trong cơ thể với những phần hành khác nhau. Mỗi vùng da được tạo thành bởi hàng triệu tế bào. Vậy muốn trị tận gốc các vấn đề bất thường của da như nám da, mụn, lão hóa trước tuổi v.v…thì phải hiểu rõ và trị từ mỗi tế bào.

 

Năm 2002, KHG Nguyễn Thượng Vũ và các cộng tác viên tại University of California at Davis, khi đang nghiên cứu căn bệnh pemphigus là một căn bệnh da rất quan trọng và nguy hiểm có thể đưa đến tử vong, lần đầu tiên đã dùng phương pháp GENE ARRAY để khám phá sự hiện diện của hàng ngàn nguyên bào hoạt động trong các tế bào da, ngược hẳn với quan niệm cũ cho rằng chỉ có một số nhỏ nguyên bào hiện diện trong tế bào da. Nghiên cứu quan trọng này đã được hội đồng khoa học quốc tế chấp nhận cho xuất bản trên Journal of Biological Chemistry, một trong những nguyệt san khoa học quốc tế đứng đầu thế giới.

Nguyen et al, Journal of Biological Chemistry 2004; 279(3):2135-46. 

 

Hoạt động cùa mỗi tế bào được điều khiển bởi rất nhiều nguyên bào. Do đó khám phá khoa học này đã giải thích được tại sao từ trước đến nay, không có một loại thuốc nào một mình (thường chỉ bám lên một nguyên bào) có thể chuyển hóa được hoạt động của tế bào da để có thể giúp chúng trẻ hóa hoặc trị các vấn đề kinh niên như nám da, mụn, lão hóa trước tuổi v.v…

 

Với khám phá khoa học quan trọng này, dựa trên nguyên lý y học "Multiple Hits Theory" KHG Nguyễn Thượng Vũ đã đề ra tại hội nghị nghiên cứu y học ngành da liễu toàn thế giới lần thứ 3 tại Cologne, Đức Quốc năm 1998 để giải thích nguồn gốc gây ra các chứng bệnh kinh niên của da (Nguyen et al, Journal of Biological Chemistry 2000; 275(38): 29466-76.), các khoa học gia của công ty Dr Vu Cosmeceutical, lần đầu tiên trong y học đã phát minh phương pháp mới để có thể giúp trẻ hóa làn da và trị nám da tận gốc các vấn đề kinh niên nói trên, nhất là nám da, bất kể nám dưới da (dermal melasma) hoặc trong da (epidermal melasma).  Sản phẫm lần đầu tiên phỗ biến từ năm 2007 qua nhiều năm đã chứng minh được sự thành công vượt bực hơn hẳn các phương pháp thẩm mỹ cho da và phương pháp trị nám cổ điển có mặt trên thị trường hiện nay.  

 

Cho đến nay, công ty vẫn độc quyền là công ty duy nhất chế tạo sản phẩm trị nám theo phương thức Transformation (Chuyển Hóa).  Do biết được một cách chính xác các nguyên bào hiện diện trong tế bào da và vai trò của chúng trong hoạt động bình thường và quá trình lão hóa, Dr Vu Cosmeceutical nghiên cứu một cách chính xác hoạt động của nhiều hoạt chất thiên nhiên có thể cùng nhau giúp trẻ hóa làn da bằng cách làm các tế bào da trẻ mạnh và hoạt động lại bình thường. Đây là thành công đầu tiên của kem dưởng da buổi tối và ban ngày. 

 

Mỗi sản phẩm được chế tạo một cách công phu, có chứa khoảng 50 hoạt chất tác dụng trên nhiều nguyên bào khác nhau để chuyể̉n hóa hoạt động của các tế bào. Các hoạt chất này được đưa xuyên qua lớp mặt sừng của da (stratum cornium) để vào tận các tế bào da bằng kỷ thuật nano qua các hạt cực vi cầu (nanotransfersome), là một phát minh của công ty Dr VuCosmeceuticals vào năm 2005.  Cream YB, Dienci hoặc Y4E Night Treatment) có chứa lượng hoạt chất cao hơn kem ban ngày, cần thiết để chuyển hóa các tế bào lúc ta đang ngủ là lúc hormone sinh trưởng (growth hormone) tiết ra nhiều. Trong khi đó, kem ban ngày (Dr Vu YB, Dienci hoặc Y4E Day Moisturizer SPF30) chứa lượng hoạt chất ít hơn, đủ để chuyển hóa làn da khi cơ thể chuyển tiết xuất hormone qua loại thyroid hormone, trong khi đó lại có chứa thêm chất giữ ẩm và chống nắng.  Chất chống nắng ngăn bớt tác hại của tia cực tím (UV) từ mặt trời thường tác hại các tế bào da làm nám trở nên nặng hơn.

 

Khác hẳn với những sản phẩm đang có mặt trên thị trường, sản phẩm Dr Vu Cosmeceuticals không những chỉ chống lão hóa (anti-aging) mà còn giúp trẻ hóa (reverse aging) làn da nhất là cho quí vị lớn tuổi. Khi tế bào da được trẻ hóa, tế bào fibroblast ở lớp bì của da sẽ hồi phục khả năng chế tạo chất collagen tự nhiên của con người, là loại collagen duy nhất có thể hoạt động trong da chúng ta. Do đó, sản phẩm giúp làn da căng mịn tự nhiên chứ không phải lột da bằng hóa chất như tretinoic acid (Retin A, Tretinoin) hoặc alpha/beta hydroxy acid, hoặc tạm thời căng da một cách mất tự nhiên bằng cách chích độc tố Botulinum toxin (Botox).

 

Khi tế bào da được trẻ hóa, hoạt động và sự tương tác giữa các tế bào, nhất là tế bào biểu bì và tế bào tạo hắc tố sẽ trở lại điều hòa và nguồn gốc gây nám, tàn  nhang, đồi mồi v.v… sẽ biến đi.  Như vậy chỉ cần thêm serum (Y4E Brightening Serum) và theo sau là kem dùng trực tiếp trên vết nám (Dr Vu Cream SB, Dienci Discoloration Shot, hoặc Y4E Lightening Cream) là sẽ có một bộ kem trị nám tận gốc.  

 

Serum và kem bôi nám sẽ giúp diều hòa lại hoạt động cúa các tế bào tạo hắc tố đã từng hoạt động bất thường. do đó tiết xuất bất thường của hắc tố eumelanin tại vùng da nám sẽ giảm dần đi.  Theo sau đó, các tế bào da keratynocytes bị nám do chứa hắc tố đã tiết ra rồi sẽ tự động bị thải ra theo chu kỳ thay tế bào da mỗi 21-30 ngày. Theo nguyên lý này, da của quí vị sẽ căng, mịn, lổ chân lông lớn và da nhăn sẽ biến đi và da sẽ đẹp vì các tế bào da trẻ lại trước khi nám biến đi. Sau đó nám sẽ không tái sanh. 

 

Đây là ưu điểm căn bản và quan trọng nhất, khác hẳn với phương pháp trị nám cổ điển bằng phương pháp lột da (exfoliation by alpha/beta hydroxyacid, tretinoin etc.), tẩy bằng hóa chất (hydroquinone), tê liệt hoạt động của melanocyte và các tế bào da chung quanh ở tầng base hoặc phá vỡ các hạt hắc tố đã tiết ra rồi tại vết nám (laser/photo therapy), là các phương pháp chỉ lột đi lớp nám hoặc hủy đi hắc tố đã tiết ra rồi, nhưng thường hay làm nguồn gốc gây ra nám trở nên tệ hại hơn và tốc độ lão hóa của da sẽ nhanh hơn. 

 

Kinh Nghiệm Dùng Phương Pháp Transformation Để Trị Nám

 

Công ty Dr Vu Cosmeceuticals liên tục nghiên cứu phương cách để cải tiến chất lượng của sản phẩm. Một trong những cách để đánh giá phẩm chất của sản phẩm là phương pháp thống kê.  Trong các trường hợp quí vị gọi thẳng công ty để được tư vấn về da và đặt mua sản phẩm, các tin tức về các yếu tố ảnh hưởng đến da như tuổi tác, sức khoẻ, môi trường làm việc, và nhất là tình trạng hiện tại của da, v.v… sẽ được ghi chép và so sánh với những lần tư vấn sau khi quí vị gọi lại hoặc do các nghiên cứu sinh của công ty gọi quí vị.  Do đó công ty có thể cải tiến phẩm chất của sản phẩm mỗi ngày một tốt hơn để tăng uy tín của mỗi sản phẩm. Công ty không đổi tên của sản phẩm. Đổi tên của sản phẩm thành sản phẩm mới là một cách kinh doanh rất phổ biến trên thị trường mỹ phẩm.

 

Trong thống kê 2010 dựa trên hơn 1000 đối tượng có da bị nám, trong tháng đầu tiên hầu hết đều có da chuyển hóa theo chiều hướng trẻ hóa như da căng và mịn, lổ chân lông khít lại, và các vết nhăng sẽ mất đi.  Mức độ căng mịn của da đủ để qua tháng thứ hai, quí vị không cần phải dùng phấn nước (foundation) để trang điểm nữa.  Phấn nước thường được chế tạo bởi đất sét mịn (bentonite hoặc kaolin) để che lấp các vết nhăn và do đó cũng lấp các tuyến mồ hôi và lổ chân lông, không tốt cho sinh hóa của da.

 

Vì sản phẩm không dùng các hóa chất để tẩy và lột da, các vết nám thường mờ đi từ từ theo chuyển biến tự nhiên của làn da. Có khoảng 80% trường hợp vết nám đi rất mau vào tháng thứ 4-6.  Đó là thời gian mà nguồn gốc gây ra nám đã hết và hắc tố đã tiết ra rồi sẽ trôi đi cùng da chết theo chu kỳ thay tế bào da tự nhiên. Chỉ có khoảng 10% trường hợp vết nám đi mau vào tháng thứ 2-3.  Tuy nhiên cũng có khoảng 10% trường hợp vết nám đi chậm hơn sau 6 tháng.  Trong các trường hợp này, mặc dầu vết nám có đỡ bớt, nhưng làn da tổng quát sáng và mịn nhiều do đó quí vị vẫn có thể thấy được.

 

Tàn nhang và đồi mồi cũng thường có khuynh hướng đi chậm hơn.  Hầu hết các trường hợp đều khả quan.  Điều khác biệt chỉ là thời gian.  Do đó người xữ dụng cần kiên nhẩn.  Trong các trưởng hợp này hầu hết quí vị vẫn rất hài lòng với sản phẩm vì mức độ trẻ hóa của làn da.

 

Riêng quí vị lần đầu tiên mới bắt đầu thấy da có những vết nám, tốt nhất là chỉ cần dùng kem dưởng da ban ngày có chứa thuốc chống nắng 

 

 

 

(Dr Vu YB, Dienci hoặc Y4E Day Moisturizer SPF30).  Khác với những vùng da khác, Khi dùng kem chống nắng trên da mặt chí nên dùng SPF 30 và bôi nhiều lớp thay vì dùng các độ SPF cao hơn.  Lý do là hóa chất chống nắng ở nồng độ cao thường không tốt cho da mặt.  Nếu sau nhiều tháng mà vết nám không tự động mất đi hoặc trở nên đậm hơn thì lúc đó mới cần trị bằng nguyên bộ kem trị nám.

Contact Us
Tel: +1 (408) 258 2696
 
Email: info@doctorvuskincare.com
 
Payment Methods
YouTube Videos
Follow Us