Khoa Học Về Da

Dưỡng Da

CHỬA TRỊ NÁM DA & TẨY TRẮNG DA

BẰNG HÓA CHẤT HYDROQUINONE: HIỆU QUẢ và HẬU QUẢ 

 

Khoa Hoc Gia Nguyễn Thượng Vũ 

và ban biên tập Dr Vu Cosmeceuticals, Inc.

 

Mùa hè là thời gian chúng ta dành rất nhiều thời giờ cho các sinh hoạt ngoài trời. Đây cũng là lúc dân da màu chúng ta da dể bị sậm đen hoặc nám. Da ngăm đen cũng tạo một vẽ đẹp hấp dẫn.  Tuy nhiên có nhiều bạn gái lại thích da trắng hơn. Mặt khác, nám da thì lại mất thẩm mỹ.  Do đó đây cũng là lúc các mỹ phẩm trắng da và trị nám tràn ngập thị trường.

 

Trong hai xuất bản y học quan trọng gần đây của các Giáo sư bác sĩ (GSBS) Arefiev và Hantash tại Stanford University và Ladizinski, Mistry, và Kundu tại Yale University cảnh báo về vấn đề nguy hại của sự tràn ngập của các sản phẩm trên thị trường có ẩn chứa các hóa chất nguy hại nhất là hydroquinone (Ladizinski et al, Dermatol Clin.  2011 Jan; 29(1):111-23, Arefiev và Hantash, Dermatologic Surgery 2012, May 14;)

 

Trong một cuộc điều tra gần đây của FDA, cơ quan này đã thâu lượm mỹ phẩm có trên thị trường nhỏ dưới tên của khoảng 2000 thương hiệu khác nhau. Hơn 90% sản phẩm đã chứa những hóa chất và nồng độ không đúng luật cho phép.  Một số lớn thương hiệu không đăng ký và không có nguồn gốc rõ ràng. 

 

Có một sự tranh luận về vấn đề nguy hại trên các tế bào của sự xữ dụng hydroquinone quá lố giữa các GSBS, khoa học gia (KHG) về ngành da (thường phục vụ nghiên cứu và giảng dạy dermatology trong các trường đại học), và các bác sĩ dermatologists hành nghề tư về thẩm mỹ, chuyên cho hydroquinone để trị nám và tẩy da, là một nguồn lợi lớn trong việc hành nghề của họ. 

 

Nhận định được sự quan trọng của vấn đề này trong sự an toàn của cộng đồng người Việt chúng ta, chúng tôi cống hiến bài khảo luận Việt ngữ này với hy vọng đồng bào người Việt chúng ta sẽ hiểu rõ vấn đề phức tạp đứng sau các mỹ phẩm đồng thời cảnh giác thân nhân khi dùng mỹ phẩm.

 

Trong khảo luận này, với kinh nghiệm rất nhiều năm nghiên cứu về tế bào da và bệnh da, và đã từng phục vụ là international peer reviewer cho các đặc san khoa học quốc tế đứng đầu y khoa nói chung và dermatology nói riêng như Journal of Clinical Investigation và Journal of Investigative Dermatology, chúng tôi sẽ dùng những tài liệu đáng tin cậy nhất để đánh giá một cách chính xác vấn đề này. 

 

Dẩn chứng cho phần khảo luận kế đến chỉ dựa trên những xuất bản trên những đặc san khoa học uy tín nhất. Các bài viết do chỉ một tác giả trên các nguyệt san khoa học ở mức độ thấp hoặc các trả lời của các BS có tính cá nhân trên internet sẽ không được đề cập đến vì tính cách chủ quan và mức độ giá trị của các tài liệu đó.

 

Chứng Nám Da và Hydroquinone.

 

Nám da không phải là một căn bệnh (skin disease). Nám da là sự hoạt động bất thường của da (skin condition) trong việc chế tạo hắc tố làm mất tính thẩm mỹ của da.  Nhất Da Nhì Dáng!  Nám da gây ra rất nhiều buồn phiền cho phụ nữ.  Kèm theo dó là sự tiêu tốn rất nhiều tiền bạc để trị nám da.  Lý do chính là hầu hết các phương pháp trị nám trên thị trường kể cả bằng hóa chất hydroquinone, một mình hoặc kết hợp với các hóa chất khác đều có tính tạm thời.

 

Trong tất cả các hóa chất tẩy trắng da, Hydroquinone ở nồng độ cao (4% trở lên) là chất tẩy nhanh nhất và mạnh nhất. Do đó trước đây đã từng được nhắc tới trong các sách giáo khoa Dermatology như là "phương pháp vàng" ("gold standard") 

Do sự hiện diện của rất nhiều quảng cáo thương mãi với những thông tin sai lầm về hiệu quả và hậu quả của các phương pháp trị nám bằng hóa chất hydroquinone, phần tham luận kế sẽ sáng tỏ vấn đề bằng tóm lược lịch sử và nguyên lý của phương pháp trị liệu này, và trích dẫn xuất bản chung tóm lược kết quả lâm sàng của các giáo sư bác sĩ (GSBS) Gupta, Gover, Nouri, và Taylor của các trường đại học New York Sunnybrook, Columbia University, University of Florida, USA, và University of Toronto, Canada, xuất bản vào năm 2006 trên đặc san của Hàn Lâm Viện Y Hoa Ngành Da Hoa Kỳ (Gupta et al, J Am Acad Dermatol 2006;55:1048-65)

 

Trong các phương pháp trị nám cổ điển, kể cả laser treatment, hydroquinone dùng một mình hoặc chung với một vài hóa chất khác, là phương pháp hữu hiệu nhất để tẩy.   Hydroquinone cũng được dùng trong nhiều mỹ phẩm tẩy trắng da. Tuy nhiên, ngày nay, do biết được khả năng có thể gây những hệ quả tai hại, thêm vào là sự tái xuất của nám sau khi trị nám, Hydroquinone không còn là “gold standard” nữa; các KHG phải nổ lực tìm phương pháp mới để trị nám.

 

Hậu Quả Phụ Khi Dùng Hydroquinone Để Trị Nám. 

 

Trong các xuất bản y học của các GSBS ngành da cũng như trong sách giáo khoa Dermatology cập nhật nhất, hydroquinone được khuyến cáo là không nên dùng quá một năm. Nếu trong vòng 4-6 tháng mà nám không bớt, bệnh nhân nên ngưng dùng hydroquinone và dùng phương pháp khác.   

 

Lý do quan trọng nhất là do những hậu quả phụ của hydroquinone có thể xảy ra khi dùng lâu quá. 1)-Khả Năng Gây Ung Bứu (carcinogen) 2)-Khả năng làm chết dần mòn các tế bào da (cellular atrophy) 3)-Khả năng gây ra các vết da dầy và xanh đen khó chửa được (exogenous ochronosis) v.v…

 

Lịch Sử Của Hydroquinone Trong Thẩm Mỹ.

 

Hydroquinone là một hóa chất được dùng rất nhiều trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Trước đây hóa chất này được dùng nhiều trong phim ảnh để rửa phim.  Từ năm 1936, KHG Oettel ở Germany khám phá ra khả năng của hydroquinone làm mất màu lông cùa mèo đen (OETTEL, HEINZ: Die hydrochinonvergiftung. Arch. F. Exper. Path. U. Pharmakol.183: 319 (1936). Khám phá này đã được lập lại thành công bởi các khoa học gia khác. Suốt 15 năm sau đó có nhiều báo cáo về sự mất màu da trong các công nhân làm việc với hóa chất hydroquinone (OLIVER et al.: Occupational leukoderma. J. A. M. A. 113: 927 (1939); SCHWARTZ et al.: Occupational leukoderma. Pub.Health Rep. 55: 1111 (1940). 

 

Năm 1950, BS Pollock đã chứng minh rằng hydroquinone có thể được dùng để trị nám da trên con người (Pollock: Arch Derm Syphilol. 1950 May; 61(5):873-5.)  Sau đó hydroquinone đã được dùng thịnh hành để trị nám.  Đã có nhiều thay đổi trong cách dùng hydroquinone. Năm 1975, GSBS Kligman tại University of Pensylvania đưa ra công thức tổng hợp 0.1% tretinoin, 5.0% hydroquinone, 0.1% dexamethasone để tri nám (Kligman and Willis: Arch Dermatol. 1975 Jan; 111(1): 40-8.) Đây có lẽ là công thức thịnh hành nhất trong các thập niên vừa qua, thường thấy trong các sản phẩm như Tri-luma, Obagy, và rất nhiều thương hiệu khác v.v...

 

Về nguyên lý hoạt động của hydroquinone, năm 1951, KHG Denton và cộng tác viên tại University of Michigan khám phá hyroquinone ngăn chận sự chế tạo hắc tố melanin (Denton et al, J Invest Dermatol. 1951; 18: 119-135). Năm 1991 KHG Palumbo tại University of Naples, Italy, khám phá ra Hydroquinone găn chận sự chế tạo hắc tố melanin bởi ngăn chận hoạt động của enzyme tyrosinase (Palumbo et al, 1991 Jan 23;1073(1):85-90).

 

Những nghiên Cứu Về Tính Độc  Của Hydroquinone.

 

Hydroquinone là hoạt chất chuyển hóa từ hóa chất benzene khi vào cơ thể. Hoá chất benzene đã từng được biết gây ra ung thư máu (leukemogen). Năm 1990 KHG Leanderson và Tagesson tại Linköping University, Thụy Sỹ đã tìm biết được hydroquinone là một trong những hoạt chất độc hại trong thuốc lá có thể gây tổn hại hạt nhân của tế bào. 

(Leanderson and Tagesson, Chemistry Biology Interact, 1990; 75(1): 71-81)

 

Năm 1991, KHG Shibata và Ito tại Nagoya City University, Nhật Bản, dùng chuột để thử khả năng gây ung thư của hydroquinone và đã chứng minh được hóa chất này có thẩ gây ung bứu trong ống thận và trong gan.  (Shibata et al, Japanese Journal of Cancer Research, 1991 Nov; 82(11): 1211-9.) Thí nghiệm của các KHG này đã được lập lại thành công tại nhiều trung tâm nghiên cứu khác nhau kể cả National Institute of Environmental Health Sciences của Hoa Kỳ (Kari et al, Food Chem Toxicol. 1992 Sep; 30(9): 737-47). 

 

Bứu ống thận (renal tubular hyperplasia/adenomas) gây ra bởi hydroquinone trong thí nghiệm bằng chuột là kết quả được lập lại nhiều nhất.  Loại bứu này, ở mức độ nhẹ (hyperplasia) là một trong những nguyên nhân chính gây ra chứng suy thận trong con người do thận có túi (renal cystic disease), gây ra bởi biểu mô trong ống thận mọc nhiều hơn bình thường, làm ống thận dầy lên và bị nghẻn.

 

Để hiểu tầm mức quan trọng của nghiên cứu này, chúng ta cần hiểu một cách khái quát về phương pháp nghiên cứu y học của khoa học cận đại.

 

Hơn 95% các loại thuốc và phương pháp chửa bệnh mới trong y khoa ngày nay đều được nghiên cứu nhờ các thí nghiệm trên các động vật nhất là chuột (in vivo experiments).  Về nghiên cứu các căn bệnh kinh niên, nhất là ung thư, đây là mô hình thí nghiệm có giá trị nhất vì trong động vật sống nhỏ bé này đều có tất cả các cơ phận như trong con người.  

 

Các chứng ung thư trong con người thường bắt đầu có mầm móng 5-15 năm trước khi gây ra triệu chứng và các tác nhân góp phần gây bệnh thường thâm nhập vào cơ thể từ từ mỗi lúc mỗi ít.  Do đó, trong thực tế nghiên cứu khoa học, các KHG dùng chuột vì đời sống của chúng ngắn và chúng sinh sản rất mau (chuột có thai chỉ 20 ngày và đẻ nhiều con).  

 

Thông thường liều lượng thuốc dùng trong thí nghiệm thường cao để có thể thấy kết quả trong một thời gian ngắn mà thí nghiệm cho phép. Một khi biết một chất có thể gây ra bệnh, các KHG sẽ dùng các phương tiện khác như dùng tế bào cấy trong phòng thí nghiệm để tìm hiểu thêm nguyên lý hoạt động của chất đó gây bệnh hay chửa bệnh. Nếu kết quả các thí nghiệm ăn khớp với nhau, giới hửu trách sẽ đưa vào thử nghiệm trên con người.

 

Trong trường hợp hydroquinone, sau khám phá về khả năng gây ung bứu trên mô hình động vật, các KHG tại University of California ở tại San Francisco và Berkeley, National Institute of Environmental Health Sciences ở tại North Corolina, University of Texas ở tại Austin, Jefferson Medical College ở tại Pennsylvania, University of Colorado ở tại Denver, Baylor College of Medicine ở tại Houston, Hoa Kỳ, University of Dundee Medical School ở Anh Quốc, Meikai University và Tohoku University ở Nhật Bản đã phổ biến kết quả của hàng loạt nghiên cứu chứng minh nguyên lý gây độc hại của hydroquinone lên tế bào (cytotoxicity), tác hại lên hệ thống đề kháng (immunotoxicity), và tác hại lên hạt nhân của tế bào (DNA damage, oxidation, v.v…) để dẩn đến khả năng gây ung thư. Dưới đây là một số dẩn chứng:

 

1)- Kari et al, Food Chem Toxicol. 1992 Sep;30(9):737-47.

2)-Whysner et al, Regul Toxicol Pharmacol. 1995 Feb;21(1):158-76.

3)-Levay et al, Carcinogenesis, 1991 July:12(7):1181-6

4)-Peters et al, Carcinogenesis. 1997 Dec;18(12):2393-401.Hard et al, Toxicol 5)-Pathol. 1997 Mar-Apr;25(2):132-43.

6)-Hutt and Kalf, Environ Health Perspect. 1996 Dec; 104 Suppl 6:1265-9.

7)-Hazel et al, Environ Health Perspect. 1996 Dec;104 Suppl 6:1257-64.

8)-Joshep et al, Br J Cancer. 1998 Aug;78(3):312-20.

9)-Pyatt et al, Toxicol Appl Pharmacol. 1998 Apr;149(2):178-84; 

10)-Pyatt et al, Cell Biol Toxicol. 2000;16(1):41-51.

11)-Stillman et al, Leuk Lymphoma. 1999 Oct;35(3-4):269-81; 

12)-Stillman et al,Exp Hematol. 2000 Feb;28(2):169-76.

13)-Lau et al, Chem Res Toxicol. 2001 Jan;14(1):25-33.

14)-Kerzic et al, Toxicology. 2003 May 3;187(2-3):127-37.

15)-Gowans et al, Cancer Res. 2005 May 1;65(9):3527-30.

16)-Terasaka et al, Anticancer Res. 2005 May-Jun;25(3B):2241-7.

17)-Ji et al, Leukemia. 2010 May;24(5):986-91.

17)-Imai et al, Genes Genet Syst. 2009 Feb;84(1):73-9. 

Và rất nhiều nghiên cứu khoa học khác.

 

Với quá nhiều chứng cớ khoa học rõ ràng như vậy, chúng ta không thể phủ nhận khả năng độc hại của hydroquinone, kể cả khả năng gây ung thư.  Do đó, sự phổ biến bừa bải chất hydroquinone như trong các mỹ phẩm trị nám và làm trắng da đã bị ngăn cấm tại 27 quốc gia trong liên hiệp Âu Châu, Úc, và Nhật Bản. 

 

Hóa Chất Hydroquinone Và Luật Pháp Hoa Kỳ

 

Tại Hoa Kỳ, vào ngày 29 tháng 8, 2006, FDA đề nghị ngăn cấm phổ biến bừa bải sản phẩm chứa chất hydroquinone dựa trên chứng cớ hoá chất này có thể gây ung thư, và trên con người, Ochronosis, là đám da dầy và xanh đen xảy ra khi dùng hydroquinone. Vết nám xanh đen này rất khó trị. (FDA: FR Doc E6-14263).  

 

Dựa theo FDA, có khoảng 65 công ty lớn sản xuất hơn 200 sản phẩm làm trắng da. Thị trường khổng lồ là cộng đồng gốc Á Châu và các dân da màu khác.

 

Đề nghị này của FDA đã bị chống đối một cách mãnh liệt bởi giới BS dermatologists chuyên dùng hydroquinone. (Levitt J., J Am Acad Dermatol. 2007 Nov;57(5):854-72.). Theo ý kiến của các BS này là hiện nay chưa có chứng cớ văn bản nào cho thấy hydroquinone gây ung thư trong con người.  Dỉ nhiên ý kiến đó cũng không phủ nhận khả năng gây độc của hydroquinone. Nghiên cứu để liên hệ sự sử dụng hydroquinone và khả năng gây ra ung thư mà triệu chứng chỉ có thể thấy được rất nhiều năm về sau là vấn đề không đơn giản.

 

Hiện nay đề nghị ngăn cấm phổ biến bừa bãi sản phẩm chứa chất hydroquinone ở nồng độ thấp (dưới 2%) ở Hoa Kỳ của FDA vẫn chưa được áp dụng, đợi cho đến khi có thêm chứng cớ gây bệnh của hydroquinone trên con người. Tuy nhiên sản phẩm có chứa trên 2% hydroquinone (thí dụ, Obagy, Triluma) bắt buộc phải có toa bác sĩ vì vấn đề an toàn. Sản phẩm có chứa trên 2% hydroquinone, có hoặc không nêu rõ trên nhản hiệu đều phạm luật và cần được báo cho cơ quan FDA (www.fda.gov: Medwatch program)

 

Liên Hệ  Giửa Nghiên Cứu Y Học Và Vấn Đề Thực Tế Lâu Dài. 

 

Trong thực tế, bởi vì nám tái xuất sau khi ngưng trị bằng hydroquinone thường hay xảy ra, có rất nhiều phụ nữ dùng liên tục trong nhiều năm sản phẩm chứa nhiều hóa chất hydroquinone.  Do đó số lượng người có da bị hư hại do hậu quả phụ không it.  

 

Tệ nạn lớn nhất hiện nay là các sản phẩm ẩn chứa một lượng lớn hydroquinone và các hóa chất khác đang tràn lan trên thị trường người gốc Á Châu tại Hoa Kỳ. Do đó chính người sữ dụng không biết là mình đang dùng quá lố hydroquinone trong mỹ phẩm.  

 

Phụ nữ Á Châu thường mong muốn có một làn da trắng.  Cho đến nay hydroquinone vẫn là hóa chất tẩy trắng da mạnh nhất có trong y học. Thêm vào đó có nhiều ý kiến cá nhân của một số BS thẫm mỹ phổ biến trên internet cho rằng hydroquinone không có hại.  Do đó khuyến khích các thương gia/công ty nhỏ kinh doanh mỹ phẫm cho rất nhiều hóa chất này vào các sản phẩm kem, serum, mặt nạ trắng da nhằm mục đích đạt kết quả một cách mau chóng, dễ cạnh tranh. Các thông tin về các sản phẩm này tuy không biểu hiện sự thật nhưng vẫn tạm thời tránh né được sự kiễm soát của FDA bởi vì các quảng cáo không bằng tiếng Anh mà chỉ bằng tiếng Hoa, Phi, và tiếng Việt trong các báo chí, radio, và truyền hình trong cộng đồng thiểu số. 

 

Chúng ta sẽ thấy trong thời gian tới cơ quan FDA sẽ có những biện pháp mới để kiểm soát vấn đề này để bảo vệ sự an toàn cho giới tiêu thụ.  Tuy nhiên trong hiện tại, vấn đề an toàn khi xữ dụng mỹ phẫm trong cộng đồng người thiểu số (ethnic community) như cộng đồng người Việt chúng ta ở Hoa Kỳ nằm trong vấn đề kiến thức và hiểu biết của người xữ dụng.

 

Mặc dầu da bị hư hại do hậu quả phụ của việc xữ dụng quá lố hydroquinone xảy ra không it, cho đến nay chưa có một báo cáo chính thức của một nghiên cứu nào về hậu quả của việc xữ dụng hydroquinone để trị nám và làm trắng da trong cộng đồng người Việt.  Lý do chính là phần lớn quí vị bị nám da thường dùng sản phẩm bán tự do trên thị trường. Do đó giới BS chuyên nghiên cứu không có đối tượng để theo dỏi và kiểm chứng. 

 

Đứng trên phương diện nghiên cứu khoa học, do sự phổ biến bừa bãi các sản phẩm chứa hydroquinone ở nồng độ cao trong thị trường người thiểu số, số lượng người tiêu thụ bị phản ứng phụ tăng lên rất nhiều. Do đó tạo điều kiện cho giới KHG chúng tôi có thêm dử kiện để đúc kết các nghiên cứu. Các phản ứng phụ thường thấy rõ nhất khi dùng nhiều và lâu hóa chất hydroquinone là tế bào da bị chết dần mòn (atrophy), do đó da mỏng (thinning) và suy sụp (sagging). Mụn thịt hiện lên nhiều trên da mặt, nhất là ở mí mắt và chung quanh vòng mắt. 

 

Mụn thịt không phải là mụn (acne) mà là những loại ung bướu không ác tính (benign tumor) của da. Thông thường nhất là bướu tuyến mồ hôi (sweat gland) còn được gọi là syringoma. Loại bứu này thỉnh thoảng xảy ra trên da của quí vị cao niên ngoài 70, tuy nhiên ít khi xảy ra cho giới trẻ và trung niên. Tuy nhiên trong số quí vị dùng nhiều mỹ phẫm chứa quá nhiều hydroquinone trong nhiều năm thì thường hay bị syringoma nhiều hơn.

 

Do lớp sừng ngăn cản, các hóa chất khi bôi lên da thường chỉ có thể thâm nhập vào da qua các tuyến mồ hôi, nơi mà biểu mô không có lớp sừng.  Có lẽ đây là lý do biểu mô của tuyến mồ hôi bị ảnh hưởng tác hại của hóa chất trong mỹ phẩm nhiều nhất.

 

Mụn thịt là chứng cớ rõ ràng nhất để liên hệ khả năng gây bướu của biểu mô trong thí nghiệm dùng chuột (renal tubular epithelial hyperplasia/adenoma) và khả năng này trên biểu mô của con người. Tương tự như trong ống thận của chuột, trong trường hợp syringoma trong con người, biểu mô trong ống dẩn tuyến mồ hôi mọc nhiều hơn bình thường, làm ống dầy lên và bị nghẻn.  Mồ hôi tạo nên không có chổ thoát, nong ống to ra tạo thành túi (cysts). Tuyến mồ hôi vẫn tiếp tục phát triển tạo thành những cuộn ống và túi lẫn lộn tạo thành khối u nhỏ dưới da. (Đọc thêm: Nidal et al, J Clin Pathol. 2007 February; 60(2): 145–159.)

 

Hiện nay vẩn chưa có chứng cớ lâm sàng hydroquinone gây ra những loại ung thư dử (malignant tumor) trong con người như thấy trong thí nghiệm trong chuột. Tuy nhiên khi y học phát triển hơn chúng ta có thể ngạc nhiên với những kết quả nghiên cứu mới.  Do đó, phòng bệnh hơn chữa bệnh.  Chúng ta cần phải rất thận trọng trong việc xữ dụng hydroquinone trên cơ thể chúng ta.

 

Nếu khả năng gây bướu của hydroquinone trên biểu mô của ống tuyến mồ hôi của con người cũng xảy ra trên biểu mô của ống thận thì hậu quả rất tai hại và rất khó để chứng minh vì thời gian không có triệu chứng kéo dài rất lâu.

 

Như vậy khả năng gây hại của hóa chất như hydroquinone trong mỹ phẫm là vấn đề thực tế và mức độ ảnh hưởng quần chúng rất lớn.  Đây là lý do sau nhiều năm thành công trong việc nghiên cứu các căn bệnh PAMS và pemphigus, là căn bệnh tự kháng của biểu mô và da rất hiếm nhưng rất quan trọng vì có thể gây tử vong, trong những năm gần đây, chúng tôi đã chuyển hướng dành nổ lực để nghiên cứu những phương pháp mới, an toàn và hiệu quả để chuyển hóa thẩm mỹ của làn da.  

 

Chúng ta có thể so sánh những nghiên cứu về hydroquinone và lịch sữ nghiên cứu về khả năng của hút thuốc lá gây ung thư. Vào những thập niên 1940s và 1950s, không thiếu những hình ảnh quảng cáo thương mãi mang hình ảnh một bác sĩ mang ống nghe và ngậm thuốc lá, với tựa đề “thuốc lá là sức khỏe”. 

 

Ngày nay chứng cớ khoa học về khả năng thuốc lá có thể gây bệnh chết người đã quá rõ. Hội Y Học Hoa Kỳ, American Medical Association là một trong những lực lượng mạnh nhất đẩy mạnh việc chống thuốc lá tại Hoa Kỳ.  Vài trong những nghiên cứu khoa học nêu trên cũng cho thấy hydroquinone cũng là một thành phần trong thuốc lá và có thể là chất gây ung thư.

 

Chỉ có một số không may chứ không phải ai huốt thuôc lá cũng sẽ bị ung thư.  Tuy nhiên người thích hút thuốc lá thường không biết được mình thuộc nhóm "may" hay "không may". Tương tự trong trường hợp hóa chất hydroquinone, nếu chúng ta đã có những cảnh báo khoa học, có lẽ chúng ta cũng nên cẩn trọng hơn.

 

Vấn đề làm da trắng hơn thường chỉ là quan điểm về thẩm mỹ bởi vì có nhiều quí vị thích da ngăm đen hơn vì màu da hấp dẩn hơn.  Trong khi đó nám da cũng là vấn đề thẩm mỹ chứ không phải là một căn bệnh có tổn hại đến sức khoẻ. Do đó nám da chỉ cần chửa khi chúng không tự mất đi hoặc trở nên nặng hơn và làm ảnh hưởng quí vị nhiều về vấn đề tâm lý.  Nếu quá cần phải dùng hydroquinone để tẩy da cho mau thì có lẻ chỉ nên dùng vừa phải trong một thời gian ngắn. Dẫu gì đi nửa thì cũng có những phương pháp mới khác, tuy chậm nhưng an toàn hơn.

Contact Us
Tel: +1 (408) 258 2696
 
Email: info@doctorvuskincare.com
 
Payment Methods
YouTube Videos
Follow Us