Khoa Học Về Da

Dưỡng Da

 

Tế Bào Gốc Trong Thẩm Mỹ: 

Tải Bài Viết Gốc: Nhấn Vào Đây

 

 

 

Thực Phẩm Chức Năng “Tế Bào Gốc” Giúp “chống lão hóa”, “Trẻ Mãi Không Già” và “Tìm Lại Tuổi Xuân”: Khoa Học Hay Thương Mãi?

Vì các loại sản phẩm này trong cộng đồng người Việt đầu tiên bắt nguồn từ Việt Nam và các nước thứ ba như Thái Lan, chúng tôi đi thẳng vào vấn đề với tuyên bố chung của y khoa Thái Lan bao gồm Viện Y Khoa Hoàng gia, Hiệp Hội Da Liễu, Hiệp hội Tim Mạch, Hiệp Hội Huyết học, Hội Thận và Hiệp Hội Thần Kinh Học của Thái Lan dưới sự bảo trợ của Hoàng gia.

Tuyên bố chung đã ban hành vào tháng 7 năm 2013 đã nhấn mạnh rằng hiện nay “không có bằng chứng khoa học nào chứng minh rằng liệu pháp tế bào gốc có hiệu quả trẻ hóa, tăng tuổi thọ, hoặc làm chậm sự thoái hóa của các cơ quan hoặc cải thiện chất lượng của cuộc sống v.v…”

Tuyên bố này cũng tương tự như tuyên bố chung của các hiệp hội các bác sĩ thẩm mỹ của Hoa Kỳ và Canada vào tháng 4 năm 2013.

Đọc giả sẽ ngạc nhiên khi nghe các tuyên bố chung rất quan trọng này hoàn toàn đi ngược với các quảng cáo thương mãi về sản phẩm tế bào gốc trên các đài truyền hình, truyền thanh, và báo chí Việt ngữ, và internet bằng cả tiếng Anh. Các quảng cáo tiếp thị này cũng trưng ra những hình ảnh các nhân viên phòng thí nghiệm sinh hóa, nhà máy, và các lời “chứng thực” cá nhân (testimonials) làm chứng cho sự hiệu nghiệm của sản phẩm.

Dĩ nhiên khán thính đọc giả nhậy cảm sẽ hiểu ngay là các hình ảnh đó có thể mua một cách dể dàng trên internet; và những lời “chứng thực” cá nhân (testimonials) làm chứng trên truyền thanh hoặc truyền hình đều không thể tin được, vì không có kiểm chứng bởi một nhóm chuyên gia độc lập.

Tuy nhiên trình độ tiếp thị ngày nay đã tiến xa hơn. Các tiếp thị trên internet thường kèm theo các “tin tức khoa học” và dẩn chứng với những “công bố khoa học” đã xuất bản trên các tạp chí “khoa học sinh hóa” để chứng minh cho sự hiệu nghiệm của các sản phẩm được quảng cáo. Khán thính đọc giả, dẩu rất nhậy cảm, cũng sẽ rất khó hiểu hư thực của các tiếp thị này.

Thật sự lối thương mãi “tế bào gốc khoa học giả” này (stem cell pseudoscience) đã thịnh hành ở Trung Quốc từ sau 2006 khi các tin tức hứa hẹn về tiềm năng của tế bào gốc nhân tạo trong y khoa trở nên phổ biến trong quần chúng. Hàng ngàn “tạp chí khoa học” đã ra đời để công bố hàng trăm ngàn “khám phá khoa học y sinh hoá”. Sự khác biệt của các tạp chí khoa học này là họ xuất bản các “công bố” dựa trên tiền lệ phí ấn bản và nhu cầu, chứ không phải trên giá trị khoa học của bài được công bố. Tương tự, ở các quốc gia khác như Hoa Kỳ cũng bắt đầu xuất hiện các loại tạp chí khoa học này.

Phần lớn các loại công bố khoa học này ở dạng chứng minh các sản phẩm mới có các tác dụng tốt lên các tế bào trong thí nghiệm. Từ đó họ dùng các tài liệu này để củng cố cho các tiếp thị thương mãi.

Trong giới khoa học, các tạp chí khoa học được đánh giá theo chỉ số “Impact Factor”, thường được sử dụng để đánh giá tầm quan trọng tương đối của một tạp chí trong lĩnh vực của mình. Các loại tạp chí khoa học vụ lợi nêu trên thường không có mặt trong danh sách “Impact Factor”; do đó tin tức không thể tin được.

Để đối phó với hiện tượng y dược phi khoa học hay khoa học giả đang xen lẩn vào khoa học y dược thật sự, và để giúp quần chúng cảnh giác các ý đồ đen tối đó, bác sĩ Steven Novella, giáo sư y khoa tại Yale University School of Medicine, và các cộng tác viên đã thiết lập blog “Science-Based Medicine”. Ban biên tập của blog bao gồm các bác sĩ giáo sư y khoa từ nhiều trường đại học của Hoa Kỳ đã đóng góp nổ lực của họ để kiểm tra các tuyên bố khoa học.

Bác sĩ Steven Novella đã kết luận một bài viết gần đây, “Hãy Cảnh Giác Với Tế Bào Gốc Khoa Học Giả” như sau:

“Bài học cho công chúng là nên rất hoài nghi về các tiếp thị mang âm hưởng của những công bố nghiên cứu mới nhất hoặc phương pháp khoa học tiên tiến được loan báo vào quần chúng.”

Thông thường kể từ khi lần đầu tiên xuất hiện trên các tạp chí khoa học nổi tiếng hoặc những tin tức buổi tối, thời gian mà liệu pháp trở nên sẵn sàng cho công chúng phải mất rất nhiều năm. Đến lúc đó thì các tin tức đó đã trở thành củ và không ai nhắc đến nữa.

“Cũng phải cảnh giác với các tiếp thị về các liệu pháp tuyệt vời được chế tạo bởi những phương pháp mang tên gọi khoa học rất vang, hoặc được áp dụng với những máy móc mang dáng vẻ “khoa học tân kỳ” với các tên gọi rất khoa học. Hãy dành thời gian để kiểm tra các tiếp thị như vậy bằng cách trực tiếp tìm hiểu xem thử các tổ chức uy tín có thẩm quyền có thể nói gì về nó - trước khi bạn đầu tư thời gian, hy vọng, tiền bạc và sức khỏe vào những gì, mà rất có thể là một sự lường gạt”.

Lời khuyến cáo của bác sĩ Steven Novella rất hửu ích. Chúng tôi đã thấy có những công ty mỹ phẩm tiếp thị các sản phẩm chống lão hóa mà kết quả có thể đo trực tiếp được bằng một loại máy “tân kỳ” có thể đo được mức độ già nua của da. Sự đi đôi giửa sản phẩm “hiện đại” và máy móc “tân kỳ” này quả có một sự thuyết phục tuyệt vời.

Ngay cả đối với giới KHG về ngành da chúng tôi, nếu thật sự có một loại máy tân kỳ có thể đo được mức độ già nua của da thì quả là một phát minh khoa học rất lớn mà chúng tôi chưa từng thấy. Đến nay thì kiến thức của nhân loại về lão hóa tuy nhiều, nhưng thật sự quá nhỏ và không đáng kể so với những điều chưa biết. Do đó không thễ có tiêu chuẩn chính xác để đo lường sự già nua.

Chúng tôi đã tìm hiểu và biết rằng thực chất, các máy này không đo được mức độ lão hóa, dĩ nhiên, nhưng đo được nồng độ của các hóa chất hiện diện trong da. Các hoá chất này được tạo thành do các hoá chất khác có trong sản phẩm của các công ty đó được đưa vào cơ thể, bị biến chất và tích tụ trong da theo thời gian. Hậu chứng gây ra bởi các hóa chất đó trong cơ thể chưa ai biết đến; chỉ có thời gian mới trả lời.

Thực Phẩm Chức Năng “Tế Bào Gốc” Giúp “giảm cân nhanh”, “Trẻ Mãi Không Già” và “Tìm Lại Tuổi Xuân”: Khoa Học Hay Thương Mãi?

Lời khuyến cáo của bác sĩ Steven Novella rất hửu ích cho quần chúng, nhất là người Việt Nam, khi chúng ta nghe lại âm hưởng của một tiếng vang vào năm 1996, khi con cừu “Dolly The Sheep”, đã được chế tạo bằng phương pháp “cloning”. Tuy con cừu cloning này đã bị bệnh viêm phổi và chết yểu, nó rất nổi tiếng vì là động vật hửu nhủ đầu tiên được clone. Sau đó thì nhiều động vật hửu nhủ khác cũng được “clone” nhưng không được nổi tiếng. Giống cừu được clone đầu tiên chỉ là sự ngẫu nhiên chứ không phải chúng có điều gì đặc biệt hơn các giống vật khác đã được “clone”.

Tuy cừu Dolly đã bị bệnh phổi và chết yểu vào tháng giêng 2003, khoa học giả tưởng và truyền thông điện ảnh giải trí đã dựng lên hình ảnh của một cô “Dolly The Sheep” trẻ trung và khỏe mạnh. Sau đó thì không ai nhắc tới nữa.

Tuy nhiên, vào cuối năm 2012, khi tin tức nổi lên về việc sử dụng phương pháp “cloning” để chế tạo tế bào gốc đa năng có tiềm năng dùng được trong y học tái tạo, giới thương mãi ở Việt Nam tạo âm hưỡng của con cừu Dolly The Sheep sống lại nhằm mục đích tung ra thị trường một sản phẩm mới. Đây là loại sản phẩm không mất tiền mua vì đó là vật liệu phế thải trong các trại nuôi cừu ở miền tây Hoa Kỳ.

Trong các trại nuôi gia súc để lấy thịt ở Hoa Kỳ, sau khi lấy thịt, các phần còn lại như bào thai hoặc nhau thai trong các con cái, nếu gặp, thường được dùng làm thực phẩm gia súc. Trong các trại nuôi bò, khi các lò thịt gặp phải các bào thai bò con (fetal calf), họ thường lấy chất huyết thanh hoặc chiết xuất để bán cho các phòng thí nghiệm để nuôi tế bào. Tuy nhiên các loại vật liệu này từ giống cừu thì rất ít khi được dùng nên phần lớn vẫn là chất phế thải.

Sau khi tung ra tin đồn rằng bào thai cừu, hoặc nhau cừu, hoặc huyết thanh từ bào thai cừu có thể giúp con người “cải lão hoàn đồng”, “tìm lại tuổi xuân”, và “trẻ mãi không già”, các thương nhơn đã nhập vào Việt Nam những vật liệu phế thải này trong những hình thức giống như thuốc. Thí dụ như như những ống thủy tinh đựng huyết thanh (serum) trông giống như thuốc chích, những viên thuốc hình con nhộng chứa chất chiết xuất, hoặc bột bào thai cừu v.v… Theo các tin tức quảng cáo, họ tiếp thị rằng sản phẫm được chế tạo ở Đức Quốc!

Dĩ nhiên là không có bằng chứng khoa học nào chứng minh rằng chất chiết xuất từ bào thai cừu có một lợi ích và hiệu quả gì để trẻ hóa, tăng tuổi thọ, mọc tóc, giảm cân, hoặc làm chậm sự thoái hóa của các cơ quan hoặc cải thiện chất lượng của cuộc sống, hoặc ngừa hay chửa bất kỳ một căn bệnh nào, v.v…”. Có lẽ chúng chỉ bổ dưỡng như các loại thực phẩm gia súc khác.  Tuy nhiên, về phương diện khoa học, chúng tôi có những chứng cớ khoa học cho thấy chúng có thể chứa các vi khuẩn hoặc prion gây bệnh cũng như các kích thích tố có thể nguy hiểm cho tế bào gốc của con người. Đó là lý do trước đây chúng tôi không dùng chúng được trong phòng thí nghiệm.

Bằng các phương tiện quảng cáo vô trách nhiệm, họ đã thành công trong việc lôi kéo hàng ngàn người Việt trong và ngoài nước mua và đem vào cơ thể họ các chất kích thích trong các sản phẩm đó mà không hề biết hậu quả sẽ như thế nào! Rất đáng tiếc, khách hàng chỉ đơn giản tin vào các lời quảng cáo mà không có nhận định riêng. Có lẽ đó là do nghệ thuật quảng cáo của các phương tiện truyền thông quá cao và quá thiếu trách nhiệm! Cũng có lẽ đó cũng là trách nhiệm của những nhà chuyên môn như chúng tôi, biết mà không nói sớm!

Nói tóm lại, chúng tôi lập lại tuyên ngôn chung của giới hửu trách hiện nay: không có bằng chứng khoa học nào chứng minh rằng các sản phẩm tế bào gốc có một lợi ích và hiệu quả gì để trẻ hóa, tăng tuổi thọ, mọc tóc, hoặc làm chậm sự thoái hóa của các cơ quan hoặc cải thiện chất lượng của cuộc sống, hoặc ngừa hay chửa bất kỳ một căn bệnh nào, v.v…”

Duy chứng nguy hại của việc sử dụng sản phẩm tế bào gốc bừa bãi cũng như các sản phẩm sống từ thú vật như huyết thanh và chiết xuất bào thai cừu

Nguy hiểm trước mắt của việc sử dụng huyết thanh và chiết xuất bào thai của cừu non là khả năng hiện diện của các vi khuẩn và prion gây bệnh có thể lây nhiểm vào cơ thể và gây bệnh rất nguy hiểm trên con người. Thí dụ như bệnh thoái hóa tế bào thần kinh (Creutzfeldt-Jakob disease), là căn bệnh không chửa được và có thể đưa đến tử vong.

Kế đến là khả năng lây prion từ cừu qua người. Trong con cừu, prion gây ra bệnh scrapie, cũng là bệnh thoái hóa tế bào thần kinh đưa đến tử vong trong giống cừu và dê. Cấu trúc của prion gây ra bệnh thoái hóa tế bào thần kinh trong con cừu và con người gần như y hệt nhau.

Con đường lây nhiễm scrapie từ loài cừu thông qua các gia súc khác để tạo bệnh thoái hóa tế bào thần kinh đã được chứng minh. Nhưng con đường lây nhiễm từ scrapie loài cừu thông qua con người để tạo bệnh chưa được chứng minh. 

Tuy nhiên trong lịch sử, nhân loại chưa bao giờ dùng chất huyết thanh hoặc chiết xuất của bào thai cừu để đưa vào cơ thể một cách ồ ạt như ngày nay, đã xảy ra trong cộng đồng người Việt. Có thể ngày nay, sáng kiến thương mãi dùng chất huyết thanh hoặc chiết xuất của bào thai cừu để đưa vào cơ thể con người là cơ hội tốt cho sự truyền nhiểm scrapie từ loài cừu thông qua con người.

Nguy hiểm lâu dài là hậu quả của sự thay đổi trong hoạt động của tế bào gốc trong cơ thể.

Quần chúng đôi khi suy nghĩ là các thực phẩm chức năng thì nếu không có lợi thì “vô thưởng vô phạt”… có nghĩa là, có lẽ cũng không có hại gì. Cũng giống như một vài bác sĩ tiếp thị cấy tế bào gốc từ mỡ hoặc máu tự thân, có thể cho rằng nếu không có lợi gì, thì chắc cũng không có hại gì khi lấy tế bào gốc từ cơ thể và trả ngược lại cho cơ thể.

Điều này rõ ràng không đúng trong trường hợp tế bào gốc, là loại tế bào chưa biệt hóa và có khả năng tự sinh sản vô hạn định! Thay đổi môi trường của tế bào gốc bằng kích thích tố có thể biến chúng thành tế bào ung thư hay quái tế, là loại tế bào bất thường không có trong cơ thể. 

Vì quái tế là kết quả của sự tái lập trình tính gene một cách bất thường, quái tế sẽ thể hiện các loại protein khác lạ do đó sẽ bị hệ miễn nhiễm xem như kẻ lạ. Sự hình thành quái tế có thể là nguồn gốc gây ra bệnh tự kháng (Autoimmune disease), trong đó bệnh nhân tự tạo ra các kháng thể chống lại chính cơ thể của họ. Bệnh nặng có thể đưa đến tử vong.

Tại sao chỉ thay đổi “một chút” các tế bào gốc trước khi trả lại chúng cho cơ thể bệnh nhân, có thểthay đổi hoạt động tự nhiên của tế bào gốc, và hậu quả có thể dẩn đến hậu chứng lâu dài rất nguy hiểm?  

Yếu tố tối quan trọng trong kiến thức về sinh hóa của tế bào gốc là môi trường vi mô hay niche, là môi trường ảnh hưởng khả năng tự sinh sản và biệt hóa của tế bào gốc. Thí dụ, trong điều kiện môi trường tự nhiên của khối mỡ, tế bào gốc tương năng có khả năng biệt hóa thành tế bào tạo mạch máu mới và tế bào mỡ mới. Trong môi trường vi mô khác, tỉ dụ như trong môi trường ở chân răng hoặc đầu xương, tế bào gốc tương năng này có khả năng biệt hóa thành tế bào xương, sụn, hoặc răng.

Nguy hiểm nhất là khả năng gây ung thư từ tế bào gốc, được gọi là cancer stem cell, có thể xảy ra khoảng 5-10 năm sau khi hoạt động của tế bào gốc tự nhiên trong cơ thể bị xáo trộn bởi các độc tố có thể tác hại lên ổ kín niche của tế bào gốc, khiến các tế bào gốc thay đổi tốc độ tự sinh sản của chúng.

Một trong những độc tố nguy hiểm chính là chất chiết xuất từ hỗn hợp các tế bào gốc từ các sinh vật khác hơn là con người. 

Bình thường trong mỗi loại tế bào gốc của mỗi sinh vật đều có rất nhiều kích thích tố đặc trưng và riêng biệt cho sự phát triển của sinh vật đó. Các chất này có thể tác dụng trực tiếp lên bề mặt của những chuỗi DNA trong hạt nhân (epigenome) của tế bào gốc để tạo lập trình theo đúng chiều hướng. Vì vậy tế bào gốc có thể tự sinh sản theo đúng tốc độ và biệt hóa thành đúng loại tế bào chuyên biệt của sinh vật đó.

Một loại protein trong các động vật, tuy có một số hoạt tính tương tự, nhưng cấu trúc chỉ có khoảng 70% giống nhau giửa các động vật khác nhau. Phần khác biệt còn lại chịu trách nhiệm cho các hoạt tính bất thường khi đem từ sinh vật này qua sinh vật khác.

Tính chất về tốc độ phân chia, và chiều hướng biệt hóa của các tế bào gốc của con người, là động vật cao cấp nhất, rất nhậy cảm và chính xác hơn các động vật cấp thấp. Do đó khi bị kích bởi kích thích tố của tế bào gốc của các sinh vật khác, chúng có thể phát triển bất thường.

Thêm vào đó là khả năng bị tái lập trình tính gene của tế bào gốc đơn năng, khiến chúng phát triển trở lại thành tế bào gốc đa năng bất thường. Có nghĩa là, thí dụ, tế bào gốc đơn năng của da đáng lẽ ra chỉ có thể biệt hóa thành tế bào biểu bì, nay biến thành tế bào gốc đa năng và có thể biệt hoá thành tế bào răng, xương, hoặc cơ trơn.

Vì vậy, sự phô bày tế bào gốc của con người vô một môi trường hỗn tạp của rất nhiều kích thích tố, chiết xuất từ nhiều loại tế bào gốc khác nhau của một thú vật khác như con cừu, có thể tạo áp lực gây ra sự lầm lẫn trong lập trình của tế bào gốc của con người dẫn đến sự tái lập trình gene, kết quả là sự tự sinh sản và biệt hóa một cách hỗn loạn và có thể những hậu chứng nguy hiểm.

Hậu chứng đó có thể là sự xuất hiện các tế bào hay cơ quan lạ trong da như xương, tóc, cơ trơn mọc trong da, hoặc nguy hiểm hơn là ung thư gây ra bởi sự thay đổi tốc độ tự sinh sản của tế bào gốc. Tùy mức độ chúng có thể biến thành tế bào ung thư đơn năng (ung thư một loại tế bào) như ung thư bao tử, phổi, gan, hoặc tế bào ung thư đa năng như quái bứu teratoma.

Đọc giả có thể tự hỏi: tại sao chúng ta ăn thịt cá hằng ngày, trong đó có các tế bào gốc cũng như kích thích tố cho tế bào gốc của thú vật, chúng ta không bị các bệnh trên? Lý do rất đơn giản. Tỉ lệ tế bào gốc trong số các tế bào của cơ thể rất thấp, khoảng chừng 1/100.000. Tuy nhiên khi ta cô đọng chúng lại như chiết xuất tế bào gốc của da, của bào thai cừu thì khả năng nguy hại hoàn toàn khác.

Hậu chứng của việc “ghép tế bào gốc từ mỡ tự thân trong thẩm mỹ” đã bắt đầu xuất hiện: trường hợp này đã xảy ra ngay ở Hoa Kỳ. Một phụ nữ ở thủ đô điện ảnh của Hoa Kỳ, Hollywood, đã trởthành nạn nhân của phương pháp cấy mỡ tế bào gốc, trong đó bác sĩ dùng kích thích tố để thay đổi phần mỡ hút ra và được đưa vô da mặt và mí mắt.  Kết quả là bà này đã bị mọc xương trong da mí mắt. Sự việc này đã được đăng tải nhiều trong thông tin uy tín của Hoa kỳ như Scientific American, USA Today, v.v… 

Đây mới chỉ là bắt đầu trong một thời gian ngắn sau khi thẩm mỹ tế bào gốc được làm, nhưng hệquả sẽ xảy ra nhiều năm về sau thì chưa ai biết. Trong khi đó, các hậu chứng đã biết trong việc ghép mỡ vào da mặt trong thẩm mỹ vẫn xảy ra. Đó là khả năng gây mù mắt vì nghẽn mạch máu ổ mắt, và u hạt (granulomas) dưới da.

Chứng cớ về hiểm họa lâu dài của việc sử dụng tế bào gốc bừa bãi: Những chứng cớ tìm thấy trong lịch sử nghiên cứu liệu chứng tế bào gốc.

Chứng cớ hiện diện của các vi khuẩn và prion gây bệnh trong thú vật có thể lây nhiểm vào cơ thể và gây bệnh cho con người đã có rất nhiều trong sách vở cho nên chúng tôi không nhắc thêm khi nói đến việc sử dụng bừa bải huyết thanh hoặc chiết xuất bào thai cừu. Còn chứng cớ cho sự thay đổi hoạt động bình thường của tế bào gốc chúng ta có thể học hỏi từ các kết quả của các thí nghiệm khoa học về tế bào gốc đã xảy ra.

Trong hầu hết các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chứng minh sự hiện diện của tế bào gốc đa năng, chúng ta đều có thể tìm được chứng cớ khoa học cho thấy sự thay đổi của tế bào gốc có thể dẩn đến ung thư. 

Lý do rất đơn giản, phương cách các KHG dùng để định nghĩa tế bào gốc nhân tạo trong phòng thí nghiệm là chứng minh khả năng tự phân chia bất tận và biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau.  Cách chứng minh thông dụng nhất là chứng minh chúng có thể biến thành quái bướu teratoma trong con chuột mất hệ miễn nhiễm (teratoma assay). 

Vào năm 1998 các khoa học gia James Thomson và Jeffrey Jones ở Đại học Wisconsin đã tách riêng được tế bào gốc đa năng từ phôi thai người và có thể nuôi được trong phòng thí nghiệm (cell culture) và tạo một sự chú ý của giới khoa học gia toàn thế giới, về tiềm năng dùng tế bào gốc đa năng sẵn có này trong y khoa tái tạo.

Tế bào gốc đa năng (pluripotent) chỉ có trong phôi thai chứ bình thường không còn tồn tại trong con người đã phát triển đầy đủ. Do đó ý tưởng sử dụng phôi thai của một người để chửa bệnh cho một người khác đã phải đối phó với một trở lực rất lớn: Đạo đức nhân bản.

Khoa học phải nghĩ đến việc chế tạo tế bào gốc từ chính bệnh nhân. Trước đó, việc “cloning” tế bào gốc từ hạt nhân của tế bào mô fibroblast trong da và dùng trứng được cho bởi con cái khác đã thành công trong các động vật hửu nhủ cấp thấp. Khởi đầu là con cừu “Dolly The Sheep” vào năm 1996, và sau đó là các giống khác như chó, mèo, chuột v.v…

Năm 1999, tại phòng thí nghiệm về tế bào da của chúng tôi tại trung tâm nghiên cứu thần kinh của University of California Davis, chúng tôi quan sát một hiện tượng lạ: tế bào gốc của da biến thành một loại tế bào quái lạ có đặc tính giống tế bào cơ trơn (smooth muscle) vì chúng có thể tự co thắt nhip nhàng được.  Tuy nhiên hình thù của loại tế bào quái lạ này không giống cơ trơn hoặc tế bào sinh ra nó (myoblast). Tôi gọi tế bào này là “monster cell” (quái tế). Từ “monster cell” ngày nay khá phổ biến trong làng khoa học sinh hóa nghiên cứu về tế bào gốc. 

Hiện tượng này đã xảy ra khi chúng tôi thay đổi dung môi để nuôi tế bào gốc của da trong phòng thí nghiệm. Thay vì dùng chất chiết xuất (extract) hoặc huyết thanh (serum) của bào thai bò (fetal bovine) chúng tôi thử dùng chiết xuất và serum từ cừu non (fetal sheep). Mục đích là hy vọng tìm ra một dung môi tốt hơn cho kỹ thuật cấy tế bào của chúng tôi trong nghiên cứu hệ thống truyền tin cholinergic receptors trên tế bào da, mà chúng tôi đã khám phá được vào thập niên 1990.

Chúng tôi đã được tặng miễn phí các loại vật liệu chiết xuất từ bào thai hoặc huyết thanh của cừu non này từ các công ty thực phẩm ở tiểu bang Oregon vì họ hy vọng rằng nếu sử dụng tốt, nguồn vật liệu phế thải này sẽ có giá trị kinh tế.

Kết quả đã xảy ra ngược lại với dự đoán. Chiết xuất và serum từ cừu non đã kích thích tế bào gốc của da biến thành quái tế.  Vì lý do này trong những năm gần đây chiết xuất và serum từ cừu non không còn được dùng để nuôi tế bào trong nghiên cứu khoa học.

Về phương diện khoa học, quan sát này của chúng tôi khá quan trọng, vì tôi tin là đây là một chứng cớ rõ ràng cho thấy tế bào gốc đơn năng của da có thể bị đảo ngược lập trình (reprogrammed). Đảo ngược lập trình của tế bào có thể đưa chúng trở lại dạng tế bào gốc đa năng và có thể biệt hóa một cách bất thường thành các loại tế bào khác. Trong trường hợp này là tạo thành cơ trơn quái tế. Hình thù lạ lùng của quái tế biểu hiện sự xuất thiện của các loại protein mới.

Lý luận này dựa trên kiến thức hiện hửu: tế bào da và tế bào cơ trơn của động mạch lớn cùng bắt nguồn từ tế bào gốc đa năng của thượng bì trong túi phôi thai. Do đó để trở thành tế bào cơ trơn, tế bào gốc đơn năng của da phải biến trở ngược lại thành tế bào gốc đa năng ban đầu. 

Vào thời điểm đó, ý tưởng này của chúng tôi đi ngược lại kiến thức chung (mainstream beliefs) và không những không được ủng hộ và hưởng ứng, mà còn bị chỉ trích khi chúng tôi trình bày trong các buổi thuyết trình tại trung tâm nghiên cứu thần kinh ở Davis.  

Để có thể công bố khám phá này một cách nghiêm túc, câu hỏi các nhà phê bình đặt ra cho chúng tôi lúc đó là: trong hàng trăm kích thích tố có mặt trong chiết xuất và serum từ bào thai cừu, yếu tốgì gây ra hiện tượng tế bào da có thể chuyển biệt hóa một cách bất thường như tạo thành cơtrơn quái tế; và sự chuyển biệt bất thường này xảy ra trực tiếp hay phải thực sự đi qua giai đoạn tạo lập trình lại (reprogramming) để trở thành tế bào gốc đa/tương năng nguyên thủy.

Câu hỏi này không dễ trả lời và cần nhiều thời gian và tài chánh để nghiên cứu. Đáng tiếc, trong hoàn cảnh thiếu thốn tài chánh của phòng thí nghiệm của chúng tôi vì thiếu tài trợ, chúng tôi đã chậm trễ trong việc tiến hành khám phá mới về tế bào gốc này. 

Dù sao, đây vẫn là khởi thủy của ý tưởng về kỷ thuật tái lập trình gene trực tiếp trên tế bào gốc đơn năng để biến chúng thành đa năng. Trong những hội nghị quốc tế về da năm 2000 và 2001 ởChicago và Washington DC, không ngại bị chế diễu, tôi vẫn chia sẻ ý tưởng này với các đồng nghiệp, với hy vọng một vài khoa học gia nào đó sẽ thích ý kiến đó và có thể biến thành hiện thực.

Khoa học phát triển nhờ sự học hỏi lẫn nhau. Có rất nhiều ý tưởng mới xuất hiện mỗi ngày. Đáng khen nhất là các KHG có khả năng nhận diện được sự khả thi của những ý tưởng giá trị và có thể biến chúng thành hiện thực. Đó là các khoa học gia Arturo Alvarez-Buylla ở trung tâm nghiên cứu thần kinh của trường đại học láng giềng của chúng tôi là University of California San Francisco và Fiona Doetsch, lúc đó đang chuyển từ trường đại học Harvard qua trường đại học Rockefeller, cùng các cộng sự viên khác.

Thay vì dùng tế bào da, họ đã dùng tế bào gốc đơn năng của não chuột, cấy trong phòng thí nghiệm, và kích thích chúng bằng những chất kích thích “epidermal growth factors” (là những chất kích thích tế bào biểu bì phát triển). Các chất kích thích tế bào gốc này, thường có ở nồng độ rất cao trong bào thai như chiết xuất và serum từ bào thai cừu hay còn được gọi là “cừu non” và chính trong các tế bào gốc đơn năng của da. 

Với thí nghiệm này, họ đã có thể tái lập trình gene của tế bào gốc đơn năng của não chuột và biến chúng thành tế bào gốc tương/đa năng.

Họ công bố khám phá này vào cuối năm 2002 trên tạp chí khoa học Neuron, cùng một thời gian tôi công bố khám phá sinh phân tử Desmoglein 4. Đây là “Hardware Gene” điều khiển sự sinh trưởng và phát triển của tóc, đầu tiên được khám phá! Và cũng là kháng nguyên cho tự kháng thể gây ra căn bệnh chết người pemphigus.

Nếu chúng ta phân tích kỹ kết quả đưa đến công bố khoa học này của Arturo Alvarez-Buylla, loại tế bào họ tạo được tuy mang một số tính chất của tế bào gốc, nhưng thực chất có lẽ là một loại quái tế teratoma khác hơn là loại quái tế chúng tôi đã thấy từ tế bào da. 

Như vậy đây cũng là chứng cớ gián tiếp cho thấy khả năng gây quái tế của chiết xuất tế bào gốc, bào thai, và huyết thanh của cừu, không những trên tế bào da mà còn trên tế bào nảo.

Cũng trong năm đó chúng tôi đã dùng kỹ thuật DNA array để chứng minh được các loại protein gây bệnh, như kháng thể gây ra căn bệnh chết người pemphigus, khi đưa vào tế bào gốc của da được cấy và biệt hóa trong phòng thí nghiệm, có thể thay đổi lập trình của hạt nhân của chúng. Chúng tôi đã công bố khám phá này vào năm 2004 trên tạp chí khoa học Journal of Biological Chemistry.

Năm 2006, trong thí nghiệm dẩn đến Nobel Prize, KHG Kazutoshi Takahashi và Shinya Yamanaka đã kích thích tế bào mô của da, fibroblast, và đã tái lập trình các tế bào này và biến chúng thành “tế bào gốc đa năng”. Họ đã chứng minh tính đa năng của loại tế bào này bằng cách ghép chúng vào dưới da chuột và chúng đã phát triển thành quái bướu teratoma.

Tương tự, kết quả công bố vào năm 2012 với các thí nghiệm của KHG Zhong Zheng và cộng tác viên ở University of California, Los Angeles, cho thấy các loại tế bào đa năng tạo được đều có khả năng phát triển thành quái bứu teratoma.

Như vậy bằng chứng cho tiềm năng gây ung bướu do sự xáo trộn hoạt động của tế bào gốc đã có rất rõ. Các bằng chứng này cảnh báo cho mọi người phải rất cẩn thận khi vô tình hoặc cố ý đưa vào trong cơ thể mình những kích thích tố có tác động lên các tế bào gốc! Là điều không nên làm trong khi các KHG vẫn còn đang nghiên cứu sự lợi và hại của việc ứng dụng tế bào gốc.

Ngày nay chúng ta đã biết các chất kích thích tế bào gốc không những chỉ ở dạng protein, mà còn ởdạng ologonucleic acid, khó bị phân hủy. Thêm vào đó là khả năng hiện diện của vi khuẩn và prion trong các chiết xuất của bào thai thú vật; cho nên bất kể uống hay chích vào cơ thể các chất kích thích trên một cách bừa bãi đều nguy hiểm.

Bên cạnh chứng cớ gây quái tế giống cơ trơn từ tế bào da mà chúng tôi thấy được năm 1999, nay đã có nhiều khám phá tương tự. thí dụ, năm 2012 KHG Karen Ring và cộng tác viên ở University of California, San Francisco chỉ cần dùng một chất, Sox2, để biến tế bào mô da, fibroblast, trở thành giống tế bào gốc trong nảo.

Táo bạo hơn, nay cũng đã có chứng cớ cho thấy tế bào gốc lấy từ mỡ có thể biến thành xương, như trong trường hợp phụ nữ ở Hollywood, đã bị mọc xương trong da mí mắt sau khi được ghép tế bào gốc đã kể trên và trong các tạp chí Scientific American và USA Today. Đây là chứng cớ cụ thể nhất cho thấy sự nguy hiểm khi các bác sĩ phớt lờ chứng cớ khoa học đã có sẵn: Từ năm 2002 các KHG Patricia Zuk và Hedrick Marc của University of California, Los Angeles đã chứng minh tế bào gốc trong các vi mạch trong khối mỡ, khi đem ra khỏi môi trường tự nhiên và cho vào một môi trường khác trong phòng thí nghiệm, chúng có thể biến thành tế bào gốc tạo xương và sụn.

Chắc chắn chúng ta, không ai đang khỏe mạnh, chỉ vì những hứa hẹn được trẻ hơn và đẹp hơn, mà phải đưa vào cơ thể mình những chất kích thích tế bào gốc mà nguồn gốc không rõ, trong khi hậu quả nguy hiểm như ung thư tế bào gốc, có thể xảy ra trong nhiều năm sau. Chắc chắn chúng ta cũng không ai muốn tự nhiên xương và răng mọc ra trong da hay trong óc, hoặc 5-10 năm về sau tự nhiên trong bụng mọc ra một khối u lẫn lộn cả răng, xương và tóc như quái bướu teratoma!

Chúng tôi là những khoa học gia đã từng nghiên cứu và đam mê trong lãnh vực tế bào, y khoa, và bệnh học của da.  Chúng tôi thấy rõ tiềm năng sử dụng tế bào gốc trong y khoa và tin là trong một thời gian không xa, chúng ta sẽ có những phương cách để chữa các bệnh nan y bằng tế bào gốc. 

Tuy nhiên, khi nghiên cứu khá sâu vào lãnh vực tế bào gốc, chúng tôi cũng thấy rõ những nguy hiểm mà nếu không được kiểm soát kỹ lưỡng, sự hư hại của tế bào gốc trong cơ thể có thể gây ra ung bướu, thường xuất hiện 5-10 năm sau khi tế bào gốc bị hư hại.

Để đúc kết vấn đề tai hại của các chất kích thích trong bào thai thú vật trên tế bào gốc của con người có thể gây ra ung thư, tôi muốn kể lại một câu chuyện mà lúc nào tôi cũng nghĩ đến khi nghiên cứu về tế bào gốc.  Câu chuyện này chắc hẳn các vị niên trưởng từng sống trong những vùng cao nguyên trung phần Việt Nam vào thời chiến tranh trong thập niên 1960s và 1970s thế nào cũng biết.

Tôi lớn lên trong thời gian đó và nhà gần một bệnh xá quân đội.  Thỉnh thoảng tôi nghe nói có một anh lính đóng đồn trên các buôn thượng bị “thư” bướu trong bụng.  Khi được đem về mổ ra thì thấy cục bướu rất to có lẫn cả nùi tóc, răng, và xương.  Vì tính tò mò, tôi tìm hiểu và nghe nói từ các người trong buôn là các thầy pháp dùng “ngải sống” là các bào thai nhỏ của một số giống vật.  Hồi đó tôi không tin là “ngải bào thai” đó có liên quan gì, vì các bác sĩ bảo đó là ung bướu.  

Khi qua Mỹ vào trường y khoa thì tôi hiểu đó là teratoma, là ung thư của germ cells nay gọi là tế bào gốc.  Nhưng điều tôi vẫn thắc mắc là teratoma trong bụng của người lớn nam giới rất hiếm.  Trong sách vở toàn thế giới chưa đến 100 trường hợp được báo cáo; tại sao xảy ra nhiều quá trong vùng cao nguyên ở Việt Nam khi đó.  Nay nghiên cứu về tế bào gốc tôi bắt đầu thấy sự liên hệ giữa “ngải bào thai” và ung bướu tế bào gốc. 

“Ngải bào thai” có lẽ chẳng qua chỉ tương tự như những chất rút ra từ bào thai của thú vật như cừu và các động vật khác. Những khám phá khoa học mới nhất về khả năng kích thích tế bào gốc thành ung thư, tạo cơ sở luận lý khoa học cho quan sát này.

 

 

Bướu tế bào gốc teratoma (quái bướu). Là loại bướu tế bào gốc đa năng được mô tả đầu tiên. 

Năm 1953, KHG Leroy Stevens đã chứng minh quái bướu teratoma chứa loại tế bào khi cấy vào động vật trưởng thành sẽ biến thành hỗn hợp các tế bào đặc biệt và khác biệt, bao gồm cả tóc, xương, ruột và các mô máu. Ông đã kết luận là những tế bào ung thư này bắt nguồn từ tế bào gốc đa năng (pluripotent stem cell), có nghĩa là chúng có thể biệt hóa thành bất kỳ tế bào được tìm thấy trong một động vật hoàn toàn trưởng thành.

 

Khả năng tự phân chia để đổi mới là tính chất căn bản của tế bào gốc. Khả năng tự phân chia thành hai tế bào con, một tế bào gốc và một tế bào với khả năng thay đổi hoặc biệt hóa thành các loại tếbào trưởng thành, được quân bình trong một môi trường tế bào gốc an toàn. Nhưng nếu chúng ta vô tình hoặc cố ý, thay đổi và gây rối loạn cho môi trường đó, tế bào gốc có thể biến thành tế bào ung thư, chính là nguồn gốc của bệnh ung thư.

Kết Luận

Liệu pháp tế bào gốc trong thẩm mỹ hiện nay hoàn toàn không được chứng minh bởi khoa học là có hiệu quả và an toàn. Theo tuyên bố chung của các hiệp hội y tế thẩm quyền của nhiều quốc gia kể cả Hoa Kỳ và Thái Lan.

Như vậy tất cả các tiếp thị với những “Lời Chứng Thực Của Khách Hàng” được cung cấp bởi các cơ sở thương mãi kinh doanh Liệu pháp tế bào gốc trong thẩm mỹ, hoàn toàn không được kiểm chứng bởi các thí nghiệm lâm sàng. Tổng kết của những hiệp hội y khoa thẩm quyền cũng đã chứng minh là những tin tức đó hoàn toàn thất thực.

Do đó chúng ta có thể kết luận rằng liệu pháp tế bào gốc trong thẩm mỹ hiện nay chỉ thuần túy là thương mãi; và đây là lối thương mãi không chân thật và thiếu đạo đức.

Mặc dầu trẻ, khoẻ, đẹp mãi là niềm mong ước của mọi người, chúng ta ai cũng biết sinh - trưởng - lão - tử là qui luật tự nhiên của cuộc sống. Sự hiện diện của tế bào gốc trong cơ thể chúng ta là để giúp ta sống trong nhịp điệu của qui luật đó. Lão hóa tự nhiên là qui luật thiên nhiên chứ không phải là bệnh. Tuy nhiên khi hoạt động của tế bào gốc vào tuổi già bị thay đổi bất thường, bệnh tật sẽ sinh ra.

Lại một lần nữa, chúng tôi đóng góp những bài khảo luận này với hy vọng sẽ giúp đồng bào người Việt chúng ta có những kiến thức cập nhật và chính xác về đề tài tế bào gốc. Dĩ nhiên được trẻ đẹp mãi và đi ngược dòng thời gian là niềm mong ước, chúng tôi hy vọng đồng bào người Việt chúng ta sẽ có những nhận định thực tế trong niềm mong ước đó, khi thấy và nghe các tiếp thị nói về dùng “Tế bào gốc”, “Stem cell”, “Stammzelle” v.v… hoặc cấy tế bào gốc trong thẩm mỹ trong các quảng cáo thương mãi, hoặc vấn đề du lịch chữa bệnh bằng “liệu pháp tế bào gốc” ở các quốc gia như Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, v.v… mà theo các điều tra đã được công bố gần đây trên các tạp chí khoa học uy tín như Nature và Lancet, là các quốc gia mà các nỗ lực của chính phủ trong việc ngăn chận sự lan tràn của lối tiếp thị và hành nghề nguy hiểm và phi pháp này đã thất bại. 

Trong khi Vua Thái Lan khuyến cáo dân Thái Lan về tệ nạn liệu pháp tế bào gốc trong thẩm mỹ, chúng tôi cũng hy vọng ở quê nhà các lãnh đạo của chính phủ Việt Nam cũng sẽ có biện pháp để khuyến cáo dân chúng về tệ nạn này. 

Chúng tôi là những người làm khoa học ở Hoa Kỳ và rất ít khi có dịp để soạn một bài khảo luận về khoa học và xã hội bằng Việt ngữ, chắc chắn không tránh được những khiếm khuyết văn chương. Chúng tôi hy vọng quí vị làm văn chương sẽ giúp để truyền đạt tin tức này đến đồng bào Việt mình hiệu quả hơn.

Trước mắt chúng tôi hy vọng giới báo chí truyền thông có nhiệt huyết sẽ dùng phương tiện sẳn có của mình để giúp đồng bào mình với những tin tức đúng đắn và kịp thời.  

Cập Nhật Hóa Tin Tức Về Tế Bào Gốc

www.lbcosmec.com

Trên website http://www.lbcosmec.com/vn/

độc giả có thể liên kết thẳng với các website uy tín để kiểm chứng tin tức.

Liên lạc: Vtn.labelle@yahoo.com

 

Knoepfler Lab Stem Cell Blog: http://www.ipscell.com/tag/stem-cell-cosmetics/

Tài liệu tham khảo:

Luật pháp:

Food and Drug Addministration USA:

Sử dụng tế bào gốc được kiểm soát bởi Center for Biologics Evaluation and Research (CBER) của FDA. Theo luật pháp Liên Bang, sử dụng tế bào gốc của chính bệnh nhân cũng phải đăng ký vàđược chấp thuận bởi FDA.  Có đăng ký cũng không có nghĩa là tế bào gốc đó được FDA công nhận.  FDA không chấp nhận cho cá nhân riêng lẻ  (thí dụ các văn phòng bác sĩ hoặc thẩm mỹ viện) dùng tếbào gốc của bệnh nhân hay trên bệnh nhân. Nếu quí vị thấy bất kỳ một quảng cáo nào dùng tế bào gốc, quí vị vào website của FDA, Human Cell and Tissue Establishment Registration (HCTERS) database, để tìm hiểu cơ sở đó có phải là một trung tâm thử nghiệm lâm sàng tế bào gốc và có trong danh sách đã đăng ký với FDA hay không: (21 CFR Part 1271: Title 21 of the Code of Federal-Regulations)

https://www.accessdata.fda.gov/scripts/cber/CFAppsPub/tiss/index.cfm

What are stem cells? How are they regulated?

http://www.fda.gov/aboutfda/transparency/basics/ucm194655.htm 

FDA cảnh báo về tiếp thị tế bào gốc:

http://www.fda.gov/forconsumers/consumerupdates/ucm286155.htm

Tin tức phổ thông về “liệu pháp tế bào gốc” trong thẩm mỹ:

Roger Darlington: “How The Internet Could Be Regulated”

http://www.rogerdarlington.me.uk/Internetregulation.html - IR1

Thông cáo chung của Hiệp Hội Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ Hoa Kỳ (American Society for Aesthetic Plastic Surgery -ASAPS) và Hiệp Hội Phẫu Thuật Tạo Hình Hoa Kỳ (American Society for Plastic Surgery -ASPS).

http://www.surgery.org/media/news-releases/asaps-and-asps-issue-joint-position-statement-on-stem-cells-and-fat-grafting

Pongphon Sarnsamak: “Stem-cell therapy can be lethal”The Nation” September 7, 2013 (http://www.nationmultimedia.com/national/Stem-cell-therapy-can-be-lethal-30214325.html)

Ferris Jabr: In the Flesh: The Embedded Dangers of Untested Stem Cell Cosmetics. Unapproved procedures and skin care products endanger consumers and clinical research.  Scientific American. December 17, 2012

http://www.scientificamerican.com/article.cfm?id=stem-cell-cosmetics

SALLY WADYKA: “The Debate Over Stem-Cell Face-Lifts” The New York Times. Published: April 3, 2013

http://www.nytimes.com/2013/04/04/fashion/the-debate-over-stem-cell-face-lifts.html?pagewanted=all&_r=0

John Farrell: Researchers Highlight Warning Signs On Adult Stem Cell Treatments. Forbes February 12, 2013

http://www.forbes.com/sites/johnfarrell/2013/02/12/researchers-highlight-warning-signs-on-adult-stem-cell-treatments/

DAVID CYRANOSKI: China’s stem-cell rules go unheeded Health ministry’s attempt at regulation has had little effect. NATURE, APRIL 12, 2012, VOL 484: 149.

DAVID CYRANOSKI: FDA’s claims over stem cells upheld. Drug watchdog wins right to regulate controversial therapies. NATURE, August 2, 2012, VOL 488: 14.

Knoepfler Lab Stem Cell Laboratory. University of California Davis:  Knoepfler Lab Stem Cell Blog:http://www.ipscell.com/tag/stem-cell-cosmetics/

Comic on stem cell facelifts: http://www.ipscell.com/tag/stem-cell-dangers/

Steven Novella, MD., Yale University School of Medicine

“Be Wary of Stem Cell Pseudoscience” Science-Base Medicine. March 19, 2008.

http://www.sciencebasedmedicine.org/be-wary-of-stem-cell-pseudoscience/

Stem Cells Freak: Unapproved cosmetic stem cell treatments turn out to be dangerous.

http://www.stemcellsfreak.com/2012/12/unapproved-cosmetic-stem-cell.html

Chang Meng: Stem cell beauty scams. Global Times | July 16, 2013.http://www.globaltimes.cn/content/796650.shtml - .UhZ_3s2Cyb8

Marc Lallanilla: Why Stem Cell Facelifts Are So Risky. Livescience. December 21, 2012http://www.livescience.com/25769-stem-cell-plastic-surgery.html

The Dangers of Stem Cell Cosmetics: Huffington Post (Video) http://live.huffingtonpost.com/r/segment/stem-cell-face-cream-cosmetic surgery/50d0c006fe344434c100029b

World Report: Stem-cell experts raise concerns about medical tourism Stem-cell therapies are emerging as a growing area of medical tourism, even while research is still in its early stages. The trend is causing concern among experts. Eliza Barclay investigates. www.thelancet.com. LANCET Vol 373 March 14, 2009

 Alex Berezow: Beware of stem cell therapy claims: Medical research has shown promise, but some cosmetic procedure claims are unproven.  USA Today, May 2013.

Einsiedel EF, Adamson H. (2012) “Stem cell tourism and future stem cell tourists: policy and ethical implications.” Dev World Bioeth. 12(1):35-44

Turner L. (2012) “News media reports of patient deaths following 'medical tourism' for cosmetic surgery and bariatric surgery.” Dev World Bioeth. 12(1):21-34.

Smith K. (2012) “The problematization of medical tourism: a critique of neoliberalism.” Dev World Bioeth. 12(1):1-8

Thử Nghiệm Lâm sàng (Clinical Trials & Reports)

Guthrie D. Fat Grafting in Mastoid Surgery. Proceeding Royal Society of Medicine. 1928 Oct; 21(12):1914-7

EASTLICK HL, WORTHAM RA.: Studies on transplanted embryonic limbs of the chick; the replacement of muscle by adipose tissue. Journal of Morphology. 1947 May; 80(3):369-89

LAICO JE: Fat grafting in facial deformity. Philippino Journal of Surgery. 1951 Sep-Oct;6(5):226-9

Ross RJ, Shayan R, Mutimer KL, Ashton MW.: Autologous Fat Grafting: Current State of the Art and Critical Review. Annals of Plastic Surgery. 2013 Jun 19.

Peltoniemi HH, Salmi A, Miettinen S, Mannerström B, Saariniemi K, Mikkonen R, Kuokkanen H, Herold C. Stem cell enrichment does not warrant a higher graft survival in lipofilling of the breast: A prospective comparative study. Journal of Plastic and Reconstructive Aesthetic Surgery. 2013 Jul 8.

Joseph E. Murra, et al.: Kidney Transplantation in Modified Recipients. Annals of Surgery. September 1962, Volume 156: Number 3: 338-353

Tabit CJ, Slack GC, Fan K, Wan DC, Bradley JP: Fat grafting versus adipose-derived stem cell therapy: distinguishing indications, techniques, and outcomes. Aesthetic Plastic Surgery. 2012 Jun; 36(3): 704-13

Sheng L, Yang M, Liang Y, Li Q: Adipose tissue-derived stem cells (ADSCs) transplantation promotes regeneration of expanded skin using a tissue expansion model. Wound Repair Regeneration. Aug 12, 2013.

Fisher C, Grahovac TL, Schafer ME, Shippert RD, Marra KG, Rubin JP. Comparison of harvest and processing techniques for fat grafting and adipose stem cell isolation. Plastic and Reconstructive Surgery. 2013 Aug; 132(2):351-61.

Mailey B, Saba S, Baker J, Tokin C, Hickey S, Wong R, Wallace AM, Cohen SR.: A Comparison of Cell-Enriched Fat Transfer to Conventional Fat Grafting after Aesthetic Procedures Using a Patient Satisfaction Survey. Annals of Plastic Surgery. Mar 11, 2013.

Gamboa GM, Ross WA. Autologous fat transfer in aesthetic facial recontouring. Annals of Plastic Surgery. 2013 May; 70(5): 513-6.

Kaanta AS, Virtanen C, Selfors LM, Brugge JS, Neel BG. Evidence for a multipotent mammary progenitor with pregnancy-specific activity. Breast Cancer Research. 2013 Aug 15; 15(4): R65

Avram MM, Avram AS, James WD. Subcutaneous fat in normal and diseased states 3. Adipogenesis: from stem cell to fat cell. Journal of American Academy of Dermatology. 2007 Mar; 56(3):472-92.

Tiryaki T, Findikli N, Tiryaki D. Staged stem cell-enriched tissue (SET) injections for soft tissue augmentation in hostile recipient areas: a preliminary report. Aesthetic and Plastic Surgery. December 2011; 35(6): 965-71

Moseley TA, Zhu M, Hedrick MH.: Adipose-derived stem and progenitor cells as fillers in plastic and reconstructive surgery. Plastic and Reconstructive Surgery. September 2006; 118(3 Suppl): 121S-128S.

Lazzeri D, et al. “Blindness following cosmetic injections of the face”. Plast Reconstr Surg. 2012 Apr; 129(4):995-1012

Kim SM, Kim YS, Hong JW, Roh TS, Rah DK. “An analysis of the experiences of 62 patients with moderate complications after full-face fat injection for augmentation”. Plast Reconstr Surg. 2012 Jun;129(6):1359-68

Park SW, et al. “Iatrogenic retinal artery occlusion caused by cosmetic facial filler injections.” Am J Ophthalmol. 2012 Oct;154(4):653-662

Sa HS, Woo KI, Suh YL, Kim YD. ”Periorbital lipogranuloma: a previously unknown complication of autologous fat injections for facial augmentation”. Br J Ophthalmol. 2011 Sep; 95(9):1259-63

Khoa Học Y Khoa và Tế Bào Học

James A. Thomson et al. Embryonic Stem Cell Lines Derived from Human Blastocysts. Science 282, 1145 (1998)

Vu Thuong Nguyen, et al.: Choline acetyltransferase, acetylcholinesterase, and nicotinic acetylcholine receptors of human gingival and esophageal epithelia. Journal of Dental Research. April 2000; 79(4):939-49.

Vu Thuong Nguyen, et al.: Programmed cell death of keratinocytes culminates in apoptotic secretion of a humectant upon secretagogue action of acetylcholine. Journal of Cell Science. January 2001, 114, 1189-1204

Fiona Doetsch and Arturo Alvarez-Buylla et al: EGF Converts Transit-Amplifying Neurogenic Precursors in the Adult Brain into Multipotent Stem Cells. Neuron Volume 36, Issue 6, 19 December 2002, Pages 1021–1034

Ya-Chieh Hsu and Elaine Fuchs: A family business: stem cell progeny join the niche to regulate Homeostasis. Nature Review of Molecular Cell Biology; 13(2): 103–114.

Larissa V. and Louis J. Ignarro et al.: Clonogenic multipotent stem cells in human adipose tissue differentiate into functional smooth muscle cells. Proceeding National Academy of Science, August 8, 2006, vol. 103, no. 32: 12167–12172

Zuk PA and Hedrick MH et al (2002) “Human Adipose Tissue Is a Source of Multipotent Stem Cells” Mol Biol Cell. 13(12): 4279–4295.

Cao Y and Zhao RC et al. (2005) “Human adipose tissue-derived stem cells differentiate into endothelial cells in vitro and improve postnatal neovascularization in vivo” Biochemical and Biophysical Research Communications”. 332 (2):370–379

Yu J and Thomson JA et al: Induced pluripotent stem cell lines derived from human somatic cells. Science. 2007 Dec 21; 318(5858): 1917-20

Rodríguez LV and Ignarro LJ. : Clonogenic multipotent stem cells in human adipose tissue differentiate into functional smooth muscle cells. Proceeding National Academy of Science U S A. 2006 Aug 8; 103(32): 12167-72.

Rudolf Jaenisch and Richard Young: Stem Cells, the Molecular Circuitry of Pluripotency and Nuclear Reprogramming Cell 132, 567–582, February 22, 2008

E. FUCHS AND J.A. NOWAK: Building Epithelial Tissues from Skin Stem CellsCold Spring Harb Symp Quant Biol 2008 73: 333-350

Rui Yi and Elaine Fuchs: MicroRNAs and their roles in mammalian stem cells. Journal of Cell Science 124, 1775-1783

Ya-Chieh Hsu, H. Amalia Pasolli, and Elaine Fuchs: Dynamics between Stem Cells, Niche, and Progeny in the Hair Follicle. Cell 144, 92–105, January 7, 2011

Zheng Z and Ting K et al: Reprogramming of human fibroblasts into multipotent cells with a single ECM proteoglycan, fibromodulin. Biomaterials June 04, 2012

Karen LR and Yadong Huang et al: Direct Reprogramming of Mouse and Human Fibroblasts into Multipotent Neural Stem Cells with a Single Factor.  Cell Stem Cell Volume 11, Issue 1, 6 July 2012, Pages 100–109 

Li, J., Greco, V., Guasch, G., Fuchs, E., and Mombaerts, P. (2007). Mice cloned from skin cells. Proceeding National Academy of Science U S A. 104, 2738–2743.

Vu Thuong Nguyen: (2002) ”Novel Pemphigus Vulgaris Antigen Desmoglein 4 has an Important Role in Mediating Keratinocyte Adhesion” National Center of Biotechnology Information, GenBank: AY168788.1.

Ana Kljuic, Vu Thuong Nguyen, Angela M Christiano: (2003) “Desmoglein 4 in Hair Follicle Differentiation and Epidermal Adhesion” Cell, Volume 113, Issue 2, 249-260.

Cho H.R., et al (2008) “The effects of placental extract on fibroblast proliferation.” J Cosmet Sci. 59(3):195-202.

Sipp D. (2013) Direct-to-consumer stem cell marketing and regulatory responses.” Stem Cells Transl Med. 2(9): 638-40.

Vojnits K and Bremer S: (2010) “Challenges of using pluripotent stem cells for safety assessments of substances.” Toxicology. 270(1):10-7

Wernike K et al. (2012): “Schmallenberg virus challenge models in cattle: infectious serum or culture-grown virus?” Vet Res. 43(1):84.

Nettleton PF et al (1998): Border disease of sheep and goats. Vet Res. 29(3-4):327-40.

Takemoto KK et al (1971): “Antigenic and morphological similarities of progressive pneumonia virus, a recently isolated "slow virus" of sheep, to visna and maedi viruses.” J Virol. 1971 Mar; 7(3):301-8.

Bunge RP, Harter DH. (1969) Cytopathic effects of Visna Virus in cultured mammalian nervous tissue.

J Neuropathol Exp Neurol. 28(2):185-94.

Béringue V., et al (2012): “Facilitated cross-species transmission of prions in extraneural tissue.” Science. 2012 Jan 27; 335(6067): 472-5.

Götte DR, et al (2011) “Atypical scrapie isolates involve a uniform prion species with a complex molecular signature.” PLoS One. 6(11): e27510.

Onodera T, et al (1993): “Isolation of scrapie agent from the placenta of sheep with natural scrapie in Japan.”Microbiol Immunol.37(4):311-6

Brown P (2007): “Creutzfeldt-Jakob disease: reflections on the risk from blood product therapy.” Haemophilia. 13 Suppl 5:33-40.

Rolf George : “From Sheep to Humans: Scrapie and Creutzfeldt-Jakob Disease” University of Waterloo.Ecclectica.ca Download 9/20/2013

Foster JD et al (2001). "Clinical signs, histopathology and genetics of experimental transmission of BSE and natural scrapie to sheep and goats". Vet. Rec. 148 (6): 165–71.

Lewin PK (1990): “Scrapie and human neurodegenerative diseases”. Canadian Medical Association Journal. 142(9): 928.

Contact Us
Tel: +1 (408) 258 2696
 
Email: info@doctorvuskincare.com
 
Payment Methods
YouTube Videos
Follow Us